Việt Nam - Liên bang Nga hướng tới giai đoạn hợp tác mới về công nghệ chiến lược
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga theo lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chia sẻ về định huớng hợp tác phát triển công nghệ chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga. Ảnh: Thu Phương/TTXVN
Trước thềm chuyến thăm, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về những kết quả hợp tác nổi bật, tiềm năng mở rộng hợp tác và định hướng nâng cao năng lực khoa học, công nghệ của Việt Nam trong thời gian tới.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có quan hệ hợp tác lâu dài với Viện Hàn lâm Khoa học Nga cùng nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo của Nga. Nhìn lại quá trình hợp tác này, ông có thể đánh giá về những kết quả nổi bật và những đóng góp quan trọng nhất của các đối tác Nga đối với quá trình hình thành, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của Viện Hàn lâm nói riêng và Việt Nam nói chung?
Nếu nhìn lại toàn bộ quá trình hợp tác, tôi cho rằng điều có ý nghĩa nhất là Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay đã có sự đóng góp rất to lớn vào quá trình xây dựng đội ngũ khoa học Việt Nam, hình thành năng lực nghiên cứu trong hầu hết các lĩnh vực khoa học và công nghệ nền tảng của Việt Nam. Quan hệ giữa Viện Khoa học Việt Nam, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ngày nay, với Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đã được thiết lập từ những năm 1970. Sau năm 1991, quan hệ này tiếp tục được duy trì với Viện Hàn lâm Khoa học Nga và liên tục được nâng cấp qua nhiều thỏa thuận hợp tác. Trong những giai đoạn đầu, phía Nga đã hỗ trợ đáng kể cho Viện Hàn lâm trong đào tạo cán bộ khoa học, xây dựng năng lực phòng thí nghiệm và triển khai các chương trình nghiên cứu cơ bản về toán học, cơ học, vật liệu, hóa học, khoa học trái đất, sinh học, sinh thái tài nguyên, công nghệ sinh học và khoa học biển. Quan hệ này hiện tiếp tục được hai bên nhìn nhận như một nền tảng hợp tác khoa học có chiều sâu lịch sử.

Tàu “Viện sĩ Lavrentyev” - một trong những có tàu nghiên cứu biền hiện đại về địa chất, địa vật lý và hải dương học của Liên Bang Nga, với sự tham gia của 30 nhà khoa học Nga và Việt Nam cập cảng Cam Ranh tháng 10/2025. Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN
Một ví dụ điển hình về tính bền bỉ, thực chất và cùng có lợi là hợp tác nghiên cứu biển giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Nga, trong đó nổi bật là Phân viện Viễn Đông. Từ năm 2005 đến năm 2025, hai bên đã thực hiện 9 chuyến khảo sát chung bằng tàu nghiên cứu “Viện sĩ Oparin” trên vùng biển Việt Nam. Đây không chỉ là các chuyến thu thập mẫu đơn thuần mà đã hình thành một chuỗi nghiên cứu liên tục về đa dạng sinh học, sinh thái và vi sinh vật biển, các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học, hóa học môi trường (vi nhựa và các hợp chất hữu cơ khó phân hủy). Hai bên đã hình thành các nhóm nghiên cứu chung, trao đổi cán bộ, chia sẻ dữ liệu, cùng công bố khoa học và cùng đào tạo. Năm 2025, hai bên đã thống nhất tiếp tục lộ trình hợp tác nghiên cứu biển cho giai đoạn 2026-2035. Đây là một minh chứng rõ nét cho thấy tính hiệu quả, toàn diện của mô hình hợp tác khoa học thực chất Việt-Nga.
Một đóng góp quan trọng khác là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao thông qua việc Việt Nam tham gia Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân JINR tại Dubna. Việt Nam tham gia Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân JINR Dubna từ năm 1956, đây là cái nôi đào tạo nhiều thế hệ nhà khoa học đầu ngành về vật lý và năng lượng nguyên tử cho đất nước trước kia và được duy trì đến tận ngày nay. Hiện tại, đây là môi trường mà các nhà khoa học trẻ Việt Nam có điều kiện làm việc trực tiếp trên những hạ tầng nghiên cứu lớn như NICA, IBR-2, các máy gia tốc và các hệ thống nghiên cứu neutron. Số cán bộ Việt Nam hiện làm việc tại JINR là gần 50 người, bao phủ nhiều hướng, từ vật lý hạt nhân, neutron, vật liệu bền bức xạ đến y học hạt nhân và thiết kế máy gia tốc. Đây là nguồn nhân lực đặc biệt rất có giá trị cho chương trình điện hạt nhân và năng lượng nguyên tử phục vụ mục đích hòa bình của Việt Nam trong tương lai.
Vì vậy, nếu khái quát đóng góp của các đối tác Nga đối với khoa học Việt Nam, tôi cho rằng có thể nhìn ở ba tầng: Thứ nhất là góp phần xây dựng nền tảng khoa học cơ bản và đội ngũ khoa học chủ chốt; thứ hai là tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận trường phái khoa học Nga có trình độ và đẳng cấp cao trong nghiên cứu cơ bản và phát triển công nghệ chiến lược; và thứ ba, ngày càng quan trọng hơn, là chuyển từ quan hệ hỗ trợ sang quan hệ đối tác bình đẳng, cùng nghiên cứu, cùng đầu tư nguồn lực, cùng tạo ra tri thức và cùng phát triển công nghệ mới.
Đối với chúng tôi, giá trị lâu dài nhất của hợp tác Việt - Nga chính là năng lực khoa học được tích lũy và tiếp nối qua nhiều thế hệ, để từ nền tảng hợp tác quốc tế, Việt Nam từng bước hình thành năng lực nghiên cứu và công nghệ của chính mình.
Những năm gần đây, hợp tác giữa Viện Hàn lâm và các đối tác Nga đang có những bước phát triển mới trên nhiều lĩnh vực, từ năng lượng, công nghệ chiến lược, vật lý hạt nhân và công nghệ nguyên tử đến khoa học, công nghệ vũ trụ, viễn thám, công nghệ số, vật liệu và đào tạo nguồn nhân lực... Theo ông, ở những lĩnh vực nào Nga có thể trở thành đối tác đặc biệt quan trọng giúp Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ khoa học và công nghệ? Mô hình hợp tác nào cần được triển khai mạnh mẽ?
Theo tôi, trước hết cần làm rõ rằng tự chủ khoa học và công nghệ không có nghĩa là tự mình làm tất cả. Trong thế giới khoa học hiện đại, tự chủ phải được hiểu là năng lực của chúng ta trong việc hiểu công nghệ, làm chủ nguyên lý và thiết kế, tích hợp hệ thống, vận hành, bảo trì, cải tiến công nghệ và đặc biệt là đào tạo được thế hệ chuyên gia kế tiếp.
Từ cách tiếp cận đó, cần tập trung vào một số lĩnh vực mà Nga có năng lực khoa học - công nghệ thực sự mạnh, Việt Nam có nhu cầu chiến lược và hai bên có khả năng cùng phát triển năng lực dài hạn. Các hướng này có mức độ giao thoa cao với Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược được ban hành theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026.
Thứ nhất là vật lý hạt nhân, năng lượng nguyên tử và các công nghệ liên quan đến năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Nga có hệ sinh thái rất mạnh từ nghiên cứu cơ bản, máy gia tốc, neutron, vật liệu bền bức xạ đến đào tạo kỹ sư và công nghệ năng lượng. Với Việt Nam, điều quan trọng không chỉ là tiếp cận thiết bị, mà phải từng bước xây dựng đội ngũ có khả năng thiết kế, vận hành, đánh giá an toàn và nghiên cứu phát triển. Vì vậy, hợp tác với JINR, ROSATOM và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo của Nga cần gắn trực tiếp với quá trình chuẩn bị nhân lực cho Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân và các nhu cầu dài hạn của quốc gia.
Thứ hai là năng lượng mới và hệ thống năng lượng tiên tiến gồm: Hydrogen, lưu trữ năng lượng, lưới điện thông minh, tích hợp năng lượng tái tạo, công nghệ điện hạt nhân và các mô hình năng lượng phát thải carbon thấp. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng Đại học Nghiên cứu Quốc gia “Viện Năng lượng Moscow” đang xây dựng lộ trình hợp tác trong các lĩnh vực này. Đối với hydrogen, mục tiêu của chúng ta không nên dừng ở việc nhập một hệ thống hoàn chỉnh mà phải tiến tới nắm được các khâu công nghệ từ vật liệu điện cực, điện phân, tinh sạch, lưu trữ, cảm biến an toàn đến pin nhiên liệu và hệ thống tích hợp.
Thứ ba là công nghệ lượng tử và các công nghệ số có tính nền tảng. Nga đã hình thành một hệ sinh thái nghiên cứu lượng tử khá hoàn chỉnh; riêng ROSATOM đang triển khai lộ trình quốc gia về điện toán lượng tử đến năm 2030 trên các nền tảng phần cứng và phần mềm khác nhau. Đối với Việt Nam, chúng ta không nhất thiết bắt đầu bằng mục tiêu chế tạo ngay một máy tính lượng tử quy mô lớn. Cách đi phù hợp hơn là dựa vào những lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh như Toán, Vật lý, Hóa học, Khoa học vật liệu và cơ sở hạ tầng trang thiết bị đã có để nghiên cứu ngay về mô phỏng, thuật toán lượng tử, mật mã hậu lượng tử, truyền thông lượng tử, song song với việc tiếp cận hạ tầng tính toán lượng tử từ xa của Liên bang Nga, qua đó đào tạo đội ngũ chuyên gia nòng cốt. Theo hướng tiếp cận này, tôi cho rằng Việt Nam sẽ sớm trở thành điểm kết nối chiến lược về lượng tử giữa khu vực châu Á và thế giới.
Thứ tư là công nghệ vũ trụ, vệ tinh nhỏ, viễn thám, UAV và các hệ thống tự hành. Đây là lĩnh vực Việt Nam vừa có nhu cầu rất lớn trong giám sát tài nguyên, môi trường, thiên tai, nông nghiệp, biển và hạ tầng, vừa đã có những năng lực nghiên cứu ban đầu. Hợp tác với các doanh nghiệp và tổ chức công nghệ Nga đang được chúng tôi định hướng theo các dự án UAV, vệ tinh nhỏ, AI, hydrogen và an ninh hạ tầng số. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nội dung mới ở giai đoạn xây dựng lộ trình và chuẩn bị các dự án thí điểm, vì vậy cần triển khai theo nguyên tắc thử nghiệm nhỏ – đánh giá độc lập – nội địa hóa – sau đó mới nhân rộng.
Thứ năm là công nghệ vật liệu tiên tiến. Đây là lĩnh vực Nga có thế mạnh về nghiên cứu và công nghệ, trong khi Việt Nam có nguồn tài nguyên và nhu cầu phát triển cụ thể. Phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam là nền tảng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, được cụ thể hóa tại Kết luận số 83-KL/TW ngày 8/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.
Về mô hình hợp tác, tôi cho rằng phải chuyển mạnh từ mô hình “trao đổi cán bộ - hội thảo khoa học - đề tài nghiên cứu” sang mô hình đồng phát triển công nghệ. Tôi đặc biệt coi trọng bốn yếu tố: Xây dựng các phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu chung đặt tại Việt Nam; triển khai các chương trình đồng tài trợ dài hạn gắn với một bài toán công nghệ cụ thể; đào tạo chuyên gia theo mô hình “train-the-trainer” (đào tạo nhân sự cốt lõi để người được đào tạo có khả năng tiếp tục đào tạo đội ngũ trong nước); và đưa doanh nghiệp tham gia ngay từ giai đoạn R&D (Research and Development - Nghiên cứu và Phát triển) để hình thành chuỗi từ nghiên cứu - nguyên mẫu - thử nghiệm - sản xuất - thương mại hóa.
Bên cạnh đó, ngay từ khi thiết kế chương trình hợp tác cần xác định rõ phần việc phía Việt Nam phải làm chủ, cơ chế chia sẻ dữ liệu và kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ, cũng như các mốc đánh giá năng lực. Làm như vậy sẽ giúp chuyển giao công nghệ gắn chặt với mục tiêu nâng cao nội lực, thay vì chỉ dừng ở tiếp nhận sản phẩm hoặc thiết bị.
Nói một cách ngắn gọn, mục tiêu cuối cùng của chuyển giao công nghệ phải là chuyển giao năng lực làm chủ công nghệ. Nếu sau một dự án chúng ta chỉ có thêm một thiết bị nhưng không có thêm một đội ngũ chuyên gia có khả năng hiểu, sửa đổi và phát triển thế hệ thiết bị tiếp theo thì chưa thể gọi đó là thành công đầy đủ của hợp tác khoa học và công nghệ.
Với điều kiện thuận lợi từ quá trình hợp tác lâu dài, thời gian tới, Viện Hàn lâm sẽ làm gì để kết nối thế mạnh khoa học của Việt Nam và Liên bang Nga với nhu cầu phát triển của Việt Nam, qua đó góp phần giải quyết những bài toán cụ thể của đất nước và nâng cao năng lực của đội ngũ khoa học Việt Nam, thưa ông?
Tôi cho rằng đây chính là yêu cầu quan trọng nhất của giai đoạn hợp tác mới: Đưa hợp tác khoa học từ chiều sâu quan hệ sang chiều sâu của kết quả và tác động phát triển. Sau nhiều thập kỷ, Việt Nam và Nga đã có nền tảng rất tốt về lòng tin, mạng lưới các nhà khoa học và sự hiểu biết lẫn nhau. Đặc biệt, Năm Khoa học và Giáo dục Việt Nam - Liên bang Nga 2026 tạo thêm một khuôn khổ thuận lợi để hai nước chuyển từ những hợp tác riêng lẻ sang những chương trình có quy mô và mục tiêu chiến lược hơn. Việc tổ chức Năm Khoa học và Giáo dục 2026 đã được phía Nga xác nhận ở cấp Chính phủ và Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học.
Từ góc độ của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, hợp tác khoa học chỉ thực sự có ý nghĩa khi thế mạnh khoa học của hai nước gặp đúng bài toán phát triển của Việt Nam và tạo ra kết quả có thể tiếp tục được phát triển, ứng dụng trong nước. Vì vậy, trong giai đoạn tới, chúng tôi sẽ chuyển mạnh cách tiếp cận từ “hợp tác theo đối tác” sang “hợp tác theo bài toán”. Trước hết phải xác định một số bài toán lớn mà đất nước thực sự cần lời giải: An ninh năng lượng; công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình; quan trắc biển và bảo vệ tài nguyên, môi trường; chủ động ứng phó thiên tai và biến đổi khí hậu; phát triển công nghệ vật liệu mới; công nghệ lượng tử; công nghệ vũ trụ, vệ tinh nhỏ, viễn thám và UAV; cũng như một số hướng công nghệ sinh học và y sinh. Sau khi xác định bài toán, chúng tôi sẽ lựa chọn đúng đối tác Nga có năng lực tốt nhất cho từng khâu, thay vì xây dựng các chương trình quá rộng.

Biểu tượng Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Quốc gia Nga (Rosatom). Ảnh: IRNA/TTXVN
Viện Hàn lâm Khoa học Nga và các viện nghiên cứu trực thuộc có thế mạnh về nghiên cứu cơ bản; JINR có hạ tầng lớn về vật lý hạt nhân, neutron và máy gia tốc; ROSATOM có hệ sinh thái về công nghệ hạt nhân và lượng tử; các trường đại học như MPEI có năng lực về năng lượng; trong khi một số doanh nghiệp công nghệ Nga có kinh nghiệm đưa AI, UAV, vệ tinh nhỏ, hydrogen và các hệ thống số từ phòng thí nghiệm ra quy mô ứng dụng. Mô hình như vậy cho phép tạo ra một chuỗi hợp tác liên thông từ khoa học cơ bản đến công nghệ và ứng dụng.
Thứ hai, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sẽ ưu tiên xây dựng một số nhiệm vụ hợp tác chiến lược tiên phong “flagship” có thời hạn đủ dài, thay vì phân tán nguồn lực vào quá nhiều đề tài nhỏ. Mỗi nhiệm vụ cần có một mục tiêu cuối cùng có thể kiểm chứng: Một công nghệ làm chủ được, một nguyên mẫu hoặc hệ thống pilot hoạt động tại Việt Nam, một cơ sở dữ liệu quốc gia, một phòng thí nghiệm chung, một quy trình công nghệ, hoặc một nhóm chuyên gia Việt Nam đủ năng lực tiếp tục phát triển công nghệ sau khi dự án kết thúc.
Để các nhiệm vụ này đi đến cùng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng cần tăng cường cơ chế điều phối liên ngành, kết nối viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan sử dụng kết quả. Mỗi chương trình nên có đầu mối chịu trách nhiệm, lộ trình công nghệ và bộ tiêu chí đánh giá ngay từ đầu, qua đó bảo đảm kết quả nghiên cứu có địa chỉ ứng dụng và có khả năng tiếp tục phát triển sau giai đoạn hợp tác.
Thứ ba, chúng tôi đặc biệt coi trọng đào tạo nguồn nhân lực. Mỗi chương trình hợp tác lớn trong tương lai cần gắn với đào tạo tiến sĩ, sau tiến sĩ, kỹ sư và cán bộ trẻ; đồng hướng dẫn giữa hai nước; bố trí cán bộ Việt Nam làm việc thực chất trong các phòng thí nghiệm Nga; đồng thời đưa chuyên gia Nga sang Việt Nam làm việc đủ dài với các nhóm nghiên cứu Việt Nam. Điều chúng tôi muốn hướng tới không phải là “đào tạo một người Việt Nam biết sử dụng một công nghệ của Nga”, mà là “hình thành một nhóm khoa học Việt Nam có khả năng tiếp tục phát triển công nghệ đó tại Việt Nam”. Đây là khác biệt rất căn bản.
Cuối cùng, hiệu quả hợp tác cần được đánh giá bằng kết quả và tác động, chứ không chỉ bằng số biên bản ghi nhớ hay số cuộc hội thảo. Chúng tôi sẽ quan tâm đến số chuyên gia Việt Nam thực sự làm chủ công nghệ; số công nghệ, quy trình và nguyên mẫu được hình thành; mức độ nội địa hóa; bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ chung; dữ liệu khoa học được xây dựng; công nghệ được doanh nghiệp hoặc địa phương ứng dụng; và quan trọng hơn cả là khả năng của đội ngũ Việt Nam tiếp tục tự phát triển sau khi chương trình hợp tác kết thúc.
Tôi tin rằng với nền tảng hợp tác lâu dài, độ tin cậy cao và tính bổ sung rõ rệt giữa hai nền khoa học, Việt Nam và Liên bang Nga có điều kiện để xây dựng một giai đoạn hợp tác mới thực chất hơn, có chọn lọc hơn và hướng mạnh hơn tới công nghệ chiến lược. Đối với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, mục tiêu cuối cùng rất rõ ràng: Biến hợp tác quốc tế thành một phương thức nâng cao nội lực khoa học công nghệ quốc gia; biến tri thức chung thành năng lực của các nhà khoa học Việt Nam; và biến kết quả nghiên cứu thành những lời giải cụ thể cho các bài toán phát triển của đất nước.
Trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam!
