Việt Nam trở thành mắt xích chiến lược trong chuỗi giá trị toàn cầu mới

Việt Nam không chỉ là điểm đến đầu tư, mà đang trở thành mắt xích chiến lược trong chuỗi giá trị toàn cầu mới. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, biến tiềm năng thành hiện thực, cần phải có chiến lược dài hạn và biện pháp thực hiện nhanh, hiệu quả.

Đầu tư vào khoa học và công nghệ để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu

Hội nhập sâu nhưng giá trị thấp

Giai đoạn 2025 - 2030 là thời điểm bứt phá, khi Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, khẳng định vị thế trung tâm sản xuất và đổi mới trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Với quá trình hội nhập mạnh mẽ thông qua mạng lưới 17 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với hơn 60 quốc gia và khu vực, Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới, với khoảng 50% GDP và việc làm phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào xuất khẩu.

Trong năm 2025, hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam ghi dấu một bước phát triển vượt bậc với tổng kim ngạch đạt 930,05 tỷ USD, xác lập mức kỷ lục từ trước tới nay. Trong đó, xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD (tăng 17% so với 2024) và nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD (tăng 19,4%), xuất siêu 20,03 tỷ USD. Điều này phản ánh khả năng phục hồi mạnh mẽ của kinh tế toàn cầu, môi trường vĩ mô ổn định trong nước cùng với vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng và giá trị khu vực và thế giới.

Khi Việt Nam hội nhập sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu, giỏ hàng xuất khẩu của quốc gia dịch dần chuyển từ hàng nông sản và thương phẩm thô trong thập kỷ 1990, đến các mặt hàng công nghiệp nhẹ sử dụng công nghệ thấp trong thập kỷ 2000, sang các mặt hàng xuất khẩu công nghệ cao ngày càng tiên tiến trong thập kỷ qua. Cơ cấu xuất khẩu Việt Nam chứng kiến những chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng giá trị gia tăng. Năm 2025, ngành công nghiệp chế biến chiếm 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt hơn 107,7 tỷ USD, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 48,4% so với năm 2024 và lần đầu vượt mốc 100 tỷ USD. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc Việt Nam không chỉ tham gia lắp ráp, gia công mà còn gia tăng vai trò trong các khâu có giá trị cao trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Năm 2025, Việt Nam đạt thành tựu ấn tượng trong thu hút FDI với tổng số vốn đăng ký đạt khoảng 38,42 tỷ USD, số vốn thực hiện kỷ lục, ước đạt 27,62 tỷ USD, mức cao nhất trong giai đoạn 2021-2025, khẳng định vị thế của Việt Nam là điểm đến an toàn và hấp dẫn nhờ công nghiệp chế biến, chế tạo và các dự án công nghệ cao. Báo cáo Chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) quý I-2026 vừa được Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) công bố nêu rõ: Việt Nam vẫn là điểm tựa giữa biến động toàn cầu. Có đến 96% doanh nghiệp châu Âu cho rằng, họ sẵn sàng giới thiệu Việt Nam là điểm đến đầu tư.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn vẫn tham gia vào các khâu giá trị thấp và phụ thuộc vào các tập đoàn FDI, làm hạn chế khả năng gia tăng giá trị và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế. Một trong những điểm nghẽn lớn được chỉ ra là tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu chỉ đạt khoảng 18%. Đáng lưu ý, sự kết nối này chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp lớn, trong khi khối doanh nghiệp nhỏ và vừa - vốn chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp - lại gần như đứng ngoài cuộc.

Thực tế cho thấy khu vực FDI vẫn đóng vai trò chi phối: mặc dù chỉ đóng góp 20% GDP nhưng lại chiếm tới 71,3% kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt trong các ngành điện tử, dệt may, giày dép. Ngược lại, công nghiệp hỗ trợ trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 10-15% nhu cầu. Nhiều ngành công nghiệp chế biến - chế tạo của Việt Nam vẫn dừng ở mức gia công, giá trị gia tăng nội địa thấp. Điển hình như nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt 107,7 tỷ USD xuất khẩu, trở thành ngành mũi nhọn, nhưng doanh nghiệp trong nước chủ yếu tham gia ở khâu lắp ráp, gia công đơn giản, còn các công đoạn có giá trị gia tăng cao vẫn phụ thuộc vào FDI. Năng lực R&D và áp dụng công nghệ cao của doanh nghiệp nội địa chưa đủ mạnh để cạnh tranh với các đối tác quốc tế, dẫn đến khả năng gia tăng giá trị sản phẩm trong nước còn thấp và phụ thuộc lớn vào linh kiện nhập khẩu.

Để vươn xa trong chuỗi giá trị toàn cầu

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đặt mục tiêu tăng trưởng GDP giai đoạn 2026-2030 đạt hai con số. Lần đầu tiên, mục tiêu tăng trưởng cụ thể được giao cho từng địa phương. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), để trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, thu nhập của Việt Nam cần tăng gấp ba, nghĩa là phải duy trì tăng trưởng GDP bình quân theo đầu người ở mức khoảng 6% mỗi năm trong hai mươi năm tới. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu hiện nay của Việt Nam, động lực cho thành công trước đây, vẫn chủ yếu dựa vào gia công khâu cuối thâm dụng lao động nhưng đem lại giá trị gia tăng tương đối thấp, không đủ để đem lại tốc độ tăng trưởng năng suất lao động cần thiết để đạt mục tiêu đó. Kinh nghiệm của thế giới cho thấy Việt Nam cần phải nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị, chuyển dịch sang các lĩnh vực dịch vụ và chế tạo chế biến mới đem lại giá trị gia tăng cao hơn.

Để nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Trước hết là đẩy mạnh đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực R&D, giải pháp mang tính nền tảng và quyết định. Các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động đầu tư vào công nghệ lõi, phát triển năng lực thiết kế, chế tạo linh kiện có hàm lượng kỹ thuật cao, đồng thời ứng dụng tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) vào sản xuất. Việc nâng cao năng lực công nghệ không chỉ giúp tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu đầu vào mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị, điều quan trọng là cần vươn lên trong nấc thang về giáo dục và kỹ năng. Các chiến lược nhằm đẩy mạnh nâng cao kỹ năng và phát triển lực lượng lao động nên ưu tiên tăng đầu tư vào giáo dục đại học, bao gồm hình thành nguồn đầu vào mạnh gồm các kỹ sư và nhân sự khoa học, cải thiện sự phù hợp về kỹ năng với thị trường cho sinh viên tốt nghiệp cao đẳng và đại học, xúc tiến nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Trong lĩnh vực này, các doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư vào đào tạo nội bộ, liên kết với các cơ sở giáo dục và tổ chức quốc tế để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời, việc phát triển đội ngũ quản lý có tư duy toàn cầu, khả năng thích ứng nhanh với biến động thị trường sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất - kinh doanh, đáp ứng hiệu quả các tiêu chuẩn quốc tế và nâng cao năng lực hội nhập.

Việt Nam cũng cần tập trung khai thác những hiệp định thương mại nhằm giảm đáng kể rào cản phi thuế quan, tự do hóa thương mại dịch vụ và hội nhập sâu trong khu vực. Bằng cách phối hợp với các đối tác quốc tế trong khuôn khổ các hiệp định thương mại, Việt Nam có thể chủ động theo hướng tăng cường chiều sâu các cam kết xoay quanh những nghị trình lớn như thương mại số, hài hòa quy chuẩn, mua bán điện và năng lực kết nối. Cùng với đó là tăng cường liên kết chuỗi và thúc đẩy hợp tác với các tập đoàn đa quốc gia để nâng cao vị thế của doanh nghiệp nội địa. Việc xây dựng các liên kết dọc và ngang trong chuỗi cung ứng, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp hỗ trợ, cũng như thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược với các tập đoàn đa quốc gia sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam học hỏi công nghệ, tiêu chuẩn quản lý và mở rộng thị trường.

HOÀNG SƠN

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/viet-nam-tro-thanh-mat-xich-chien-luoc-trong-chuoi-gia-tri-toan-cau-moi-post647494.antd