Việt Nam trong dòng chảy kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp

Không chỉ trực tiếp tạo ra giá trị từ các cấu phần của hệ sinh thái, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp còn được kỳ vọng nâng cao năng suất trong nhiều lĩnh vực, mở ra những ngành nghề mới, qua đó tạo thêm dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế...

Đối thoại Phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam. Ảnh: Tri Phong.

Đối thoại Phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam. Ảnh: Tri Phong.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026-2030. Do đó, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng trong các không gian kinh tế truyền thống, việc tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

Trong bối cảnh đó, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp đang nổi lên như những không gian tăng trưởng đầy tiềm năng, không chỉ tạo ra một thị trường và ngành kinh tế mới mà còn có khả năng kết nối, thúc đẩy nhiều lĩnh vực kinh tế khác.

Đáng chú ý, Nghị quyết số 19-NQ/TW mới được ban hành ngày 28/7/2026 đã xác định phát triển kinh tế không gian tầm thấp trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, có năng lực cạnh tranh cao.

LỢI THẾ ĐỂ MỞ RỘNG BIÊN GIỚI TĂNG TRƯỞNG

Theo ông Nguyễn Văn Thuật, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và Xã hội số, Bộ Khoa học và Công nghệ, định hướng này cho thấy mục tiêu không chỉ dừng ở việc hình thành một lĩnh vực tạo doanh thu, tăng trưởng và việc làm, mà còn phải xây dựng đồng bộ nền tảng về công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, hạ tầng số, dữ liệu và quản trị, qua đó từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp cho kinh tế không gian tầm thấp.

Thực tế, việc phát triển kinh tế số những năm qua đã giúp không gian kinh tế của Việt Nam liên tục được mở rộng. Những hoạt động vốn chỉ diễn ra trong các không gian vật lý truyền thống như chợ, cửa hàng hay trung tâm thương mại nay đã được số hóa và dịch chuyển lên không gian mạng, tạo ra những phương thức giao dịch, sản xuất và tiêu dùng hoàn toàn mới.

Trong bước phát triển tiếp theo, không gian tầm thấp và không gian vũ trụ được kỳ vọng trở thành những “biên giới” mới để khai phá các động lực tăng trưởng.

Theo ông Thuật, giá trị của kinh tế tầm thấp không chỉ nằm ở những cấu phần trong hệ sinh thái như các phương tiện bay, mà còn giúp nâng cao năng suất cho nhiều lĩnh vực khác như nông nghiệp, logistics, quản lý hạ tầng, du lịch và đô thị thông minh... Cùng với đó, sự phát triển của kinh tế tầm thấp cũng có thể tạo thêm thị trường cho nhiều ngành nghề mới, đồng thời mở rộng không gian phát triển cho các ngành công nghệ cao như AI, bán dẫn, cảm biến, dữ liệu...

Vì vậy, nếu được phát triển đồng bộ, kinh tế tầm thấp không chỉ tạo thêm một ngành kinh tế mới mà còn có thể trở thành nền tảng kết nối nhiều lĩnh vực công nghệ và kinh tế khác nhau, qua đó tạo ra những động lực tăng trưởng mới trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới.

Khả năng hiện thực hóa những cơ hội này là có cơ sở bởi Việt Nam đã tích lũy được một số năng lực nền tảng về công nghiệp, công nghệ,... tạo tiền đề để tham gia vào một không gian kinh tế còn tương đối mới.

GS.TS. Hoàng Văn Cường, Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho rằng lợi thế đầu tiên nằm ở chính không gian phát triển của Việt Nam. Lấy ví dụ với đường bờ biển dài hơn 3.000 km, Việt Nam vừa có lợi thế lớn để phát triển các hoạt động kinh tế tầm thấp, vừa có không gian phù hợp để thử nghiệm những công nghệ mới trong hệ sinh thái, giúp hạn chế rủi ro thay vì thử nghiệm ngay tại các khu đô thị đông đúc hoặc khu công nghiệp tập trung.

Đáng chú ý, việc thử nghiệm, theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, không nên chỉ dừng ở tính trình diễn. Công nghệ được đưa vào thử nghiệm phải hướng tới giải quyết những bài toán thực tế, qua đó vừa hoàn thiện công nghệ, vừa kiểm chứng mô hình kinh doanh và khả năng tạo ra giá trị.

Lợi thế thứ hai giúp Việt Nam tham gia lĩnh vực kinh tế không gian mới nằm ở nền tảng công nghiệp đã hình thành. Việt Nam hiện nay đã có năng lực sản xuất trong chuỗi cung ứng linh kiện điện tử, máy tính, thiết bị điện và các sản phẩm công nghệ thông tin. Nền tảng này có thể tiếp tục được kế thừa và chuyển dịch sang những lĩnh vực mới, trong đó có thiết bị, linh kiện và công nghệ phục vụ kinh tế tầm thấp.

Lợi thế thứ ba là nguồn nhân lực. Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp không chỉ cần những người có khả năng chế tạo thiết bị mà còn đòi hỏi năng lực về điều khiển, phần mềm, dữ liệu, AI... Trong khi đó, người Việt lại có khả năng thích ứng nhanh với công nghệ mới.

Một số doanh nghiệp trong ngành cho biết lực lượng trẻ Việt Nam tham gia lĩnh vực này không chỉ có năng lực mà còn có đam mê, nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm cao. Ông Tạ Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty HTI UAS (thuộc HTI Group), cho hay tại doanh nghiệp, hiếm khi có ngày không có kỹ sư làm thêm ngoài giờ. Thậm chí, nhiều nhân sự không ngại làm việc đến 2-3 giờ sáng chỉ để nghiên cứu, sản xuất và giải quyết các bài toán kỹ thuật.

Về công nghệ vũ trụ, thực tế, Việt Nam đã có Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ từ cách đây 20 năm. Từ năm 2006 đến nay, Việt Nam đã phóng khoảng 6 vệ tinh lên quỹ đạo, trong đó hiện có 3 vệ tinh đang hoạt động và cung cấp giá trị cho nhiều lĩnh vực.

Theo TS. Lê Xuân Huy, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, các vệ tinh viễn thông VINASAT-1 và VINASAT-2 lần lượt được phóng vào năm 2008 và 2012, ngay sau khi Chiến lược được ban hành, đã không chỉ phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc mà còn có ý nghĩa về mặt chủ quyền quốc gia trên quỹ đạo địa tĩnh, khu vực có số lượng vị trí quỹ đạo dành cho vệ tinh hữu hạn. Sau đó, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiếp tục nghiên cứu, chế tạo các vệ tinh “made in Vietnam” như PicoDragon, MicroDragon và NanoDragon.

TỪ TÍCH LUỸ CÔNG NGHỆ ĐẾN HÌNH THÀNH SẢN PHẨM 

Hiện nay, Việt Nam đang tập trung vào hai hướng phát triển vệ tinh chính, bao gồm vệ tinh viễn thông và vệ tinh quan sát Trái đất. Trong đó, vệ tinh viễn thông có mục tiêu cung cấp dịch vụ và đáp ứng các yêu cầu về an ninh, quốc phòng. Còn vệ tinh quan sát Trái đất, thông qua việc thu thập dữ liệu, được định hướng phục vụ nhiều lĩnh vực khác nhau như dự báo thiên tai, phục vụ kinh tế.

Việt Nam hiện đang trong quá trình phát triển vệ tinh radar đầu tiên và dự kiến đưa lên quỹ đạo vào năm tới. Công nghệ radar có ưu thế trong quan sát ngay cả khi điều kiện thời tiết không thuận lợi, qua đó bổ sung đáng kể năng lực quan sát Trái

đất cho Việt Nam. Những kết quả này cho thấy Việt Nam đã từng bước tích lũy năng lực về cơ sở hạ tầng, nhân lực, nghiên cứu, chế tạo và vận hành vệ tinh. Đây là tiền đề quan trọng để chuyển từ giai đoạn xây dựng năng lực sang khai thác giá trị kinh tế từ công nghệ vũ trụ.

Về phương tiện bay không người lái, PGS.TS. Nguyễn Huy Hoàng, Học viện Kỹ thuật quân sự, cho biết Việt Nam cũng đang từng bước tiếp cận và làm chủ nhiều công nghệ quan trọng để tự phát triển thiết bị và thiết lập hạ tầng vận hành.

Trong đó, sự phát triển của ngành bán dẫn trong nước hiện nay được kỳ vọng là “bàn đạp” quan trọng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng vật tư, linh kiện cho lĩnh vực không gian vũ trụ, phương tiện bay không người lái và các ứng dụng không gian tầm thấp. Sự kiện Tập đoàn Viettel khởi công xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam đầu năm nay là một bước tiến quan trọng trong nỗ lực thiết lập năng lực chế tạo trong nước.

Bên cạnh năng lực chế tạo, hạ tầng viễn thông là một cấu phần không thể thiếu đối với hệ sinh thái phương tiện bay không người lái, bởi các thiết bị cần duy trì kết nối trên diện rộng và truyền tải dữ liệu dung lượng lớn với tốc độ cao. Trong khi đó, Việt Nam hiện có năng lực viễn thông được đánh giá ở nhóm phát triển hàng đầu thế giới. Tỷ lệ phủ sóng 5G đã đạt khoảng 92% dân số, trong khi tốc độ băng thông di động đạt khoảng 210,85 Mb/giây, đứng thứ 9 thế giới, chỉ sau một năm thương mại hóa.

Về năng lực làm chủ công nghệ viễn thông, nếu trước đây Việt Nam mất khoảng 8 năm để làm chủ thiết bị 4G thì hiện nay, chỉ cần gần 2 năm, các nhà mạng trong nước đã có khả năng làm chủ công nghệ sản xuất trạm 5G và đang chuẩn bị cho thế hệ mạng tiếp theo, 6G.

Như vậy, những mảnh ghép quan trọng để Việt Nam phát triển hệ sinh thái kinh tế tầm thấp và kinh tế không gian vũ trụ đã bắt đầu hình thành, từ vệ tinh, viễn thông, bán dẫn, AI, dữ liệu đến nguồn nhân lực và năng lực sản xuất. Vấn đề còn lại là làm thế nào để kết nối các mảnh ghép này thành một hệ sinh thái mạnh mẽ, đủ khả năng biến công nghệ thành sản phẩm, dịch vụ và những mô hình kinh doanh có thể tạo ra tăng trưởng.

Thực tế, dòng chảy kinh tế mới - kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp - đang dần chuyển động khi thị trường bắt đầu chứng kiến những bước tiến từ phía doanh nghiệp. Tập đoàn Viettel đến nay đã từng bước xây dựng hệ sinh thái UAV với nhiều dòng sản phẩm, từ UAV trinh sát, UAV đa năng tầm xa đến UAV cảm tử trong chưa đầy một thập kỷ. Chỉ sau 5 năm tham gia thị trường, HTI Group đã đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 80% trong phát triển UAV và đang hướng tới xây dựng một hệ sinh thái công nghệ đồng bộ tại Việt Nam.

Không chỉ doanh nghiệp, năm 2026 cũng ghi nhận sự quan tâm ngày càng rõ nét từ các địa phương. Việt Nam đã có địa phương đầu tiên thí điểm mô hình sandbox về kinh tế tầm thấp, đó là tỉnh Điện Biên. Trong khi đó, một số tỉnh, thành phố khác cũng đã đưa phát triển kinh tế tầm thấp trở thành một trong những trọng tâm ưu tiên trong các đề xuất, đề án phát triển, như Hà Nội, Tây Ninh, Điện Biên, Lâm Đồng và Đà Nẵng. Đáng chú ý, các đề án này đều nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện từ phía các bộ, ngành ngay từ những giai đoạn đầu... 

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 34-2026 phát hành ngày 24/08/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-34-2026.html

Ngô Huyền

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/viet-nam-trong-dong-chay-kinh-te-khong-gian-vu-tru-kinh-te-tam-thap.htm