Việt Nam trong làn sóng tăng trưởng 'kinh tế thú cưng'
Giờ đây thú cưng đã trở thành 'trung tâm' của những hộ gia đình ít người, là 'bạn đồng hành' giúp tạo bản sắc cá nhân và địa vị xã hội. Từ đó, nhóm 'khách hàng' này có khả năng mang lại doanh số không nhỏ cho các thương hiệu…

67% người được hỏi tại Việt Nam cho biết họ có nuôi thú cưng, cao hơn đáng kể so với mức trung bình của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Quy mô thị trường chăm sóc thú cưng toàn cầu được định giá ở mức 273,42 tỷ USD vào năm 2025. Thị trường dự kiến sẽ tăng từ 289,17 tỷ USD vào năm 2026 lên 499,06 tỷ USD vào năm 2034, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 7,06% trong giai đoạn dự báo.
Ngành công nghiệp chăm sóc thú cưng toàn cầu bao gồm nhiều mặt hàng, từ thức ăn, đồ chơi, thực phẩm bổ sung dinh dưỡng, sản phẩm chăm sóc lông cho tới dây xích, chuồng, vali du lịch, quần áo... Ngoài ra, kiến thức ngày càng tăng về sức khỏe tổng thể của động vật nuôi thông qua các sản phẩm thuốc, vaccine, hay các dịch vụ chăm sóc... được truyền tải qua mạng xã hội, đã thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường toàn cầu.
Tờ Financial Times cho hay 10 năm kể từ khi “Pet Economy” – kinh tế thú cưng xuất hiện ở Trung Quốc, hàng triệu con chó mèo thế hệ đầu đã bước vào tuổi già, qua đó làm gia tăng ngành dịch vụ chăm sóc vật nuôi nơi đây. Từ những đám tang với chi phí hơn 1.000 Nhân dân tệ (140 USD) cho đến dinh dưỡng chuyên biệt và các công cụ chẩn đoán, “Pet Economy” – kinh tế thú cưng thực sự bùng nổ ở Trung Quốc trong bối cảnh nhân khẩu học thay đổi.

10 năm kể từ khi “Pet Economy” xuất hiện ở Trung Quốc, hàng triệu con chó mèo thế hệ đầu đã bước vào tuổi già.
Theo báo cáo của công ty dữ liệu về ngành thú cưng Beijing Paidu, chi tiêu cho thú cưng đã đạt 300 tỷ Nhân dân tệ (42 tỷ USD) vào năm ngoái, tăng 7,5% so với năm trước. Báo cáo của Goldman Sachs thì ước tính thị trường thức ăn cho thú cưng của Trung Quốc dự kiến sẽ đạt 12 tỷ USD vào năm 2030, qua đó được trở thành một trong những "ngành tiêu dùng tăng trưởng nhanh nhất tại Trung Quốc".
Tại Đài Loan, số lượng các cửa hàng siêu thị tiện lợi đang phát triển chậm lại những năm gần đây. Tuy nhiên, số lượng các cửa hàng bán đồ cho thú cưng đang tăng trưởng ổn định với tốc độ nhanh gấp 5 lần so với số lượng siêu thị tiện lợi.
Các doanh nghiệp trong ngành này chỉ ra rằng, thị trường thú cưng đã dần hình thành mô hình “Tích trữ hàng trực tuyến, bổ sung hàng tại quầy thực tế”. Chuỗi siêu thị tiện lợi Family Mart cho biết, các sản phẩm cho thú cưng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu “bổ sung ngay lập tức” của chủ nuôi. Vì vậy, chuỗi siêu thị đã chọn các cửa hàng ở khu dân cư và gần công viên để thiết lập khu vực chuyên dụng cho sản phẩm thú cưng.

Chuỗi siêu thị tiện lợi Family Mart tại Đài Loan dành riêng một khu bán sản phẩm "FamiPets".
Tương tự, chuỗi 7-Eleven chỉ ra rằng, doanh thu mỗi cửa hàng sau khi triển khai khu vực sản phẩm chuyên dành cho thú cưng cao hơn gấp 1,5 lần so với trước đây. Chuỗi siêu thị OKmart cũng nhập nhiều mặt hàng dành cho thú cưng bao gồm bộ đồ ăn du lịch gấp gọn tiện dụng, vòng cổ đèn LED có thể sạc được, dây yếm ngực có túi, bát đựng thức ăn cùng nước rửa bát cho thú cưng...
Các doanh nghiệp phân tích, các mặt hàng nặng hoặc đóng gói cỡ lớn, chẳng hạn như cát vệ sinh hay các gói thức ăn lớn, thùng thức ăn đóng hộp, chủ yếu được người tiêu dùng mua qua các nền tảng thương mại điện tử. Ngược lại, các cửa hàng tiện lợi chủ yếu cung cấp các mặt hàng bổ sung tức thì. Nhiều chủ nuôi sẽ thuận tiện “mua sắm cho người và mua đồ ăn vặt cho thú cưng cùng một lúc”.
Trong khi đó, tại Hàn Quốc, thị trường thú cưng có quy mô khoảng 2.200 tỷ won (tương đương 1,7 tỷ USD) vào năm 2025. Theo dữ liệu từ Viện Nghiên cứu Tập đoàn tài chính KB, nước này hiện có khoảng 5,91 triệu hộ gia đình nuôi thú cưng, tương đương 26,7% tổng số hộ, với quy mô khoảng 15,5 triệu con.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp lớn như Pulmuone, HY hay Dongwon F&B đang đẩy mạnh phát triển mảng thức ăn cho thú cưng và mở rộng xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng doanh số trên 30%, đồng thời mở rộng thị trường sang hơn 10 quốc gia.

Tại Hàn Quốc, thị trường thú cưng có quy mô khoảng 2.200 tỷ won (tương đương 1,7 tỷ USD) vào năm 2025.
Trong làn sóng tăng trưởng “Pet Economy” của châu Á, Việt Nam nổi lên như một “ngôi sao mới” với những đặc điểm hành vi và tiêu dùng rất riêng biệt. Theo khảo sát của TGM Research, 67% người được hỏi tại Việt Nam cho biết họ có nuôi thú cưng, cao hơn đáng kể so với mức trung bình 56% của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Theo đánh giá của Euromonitor International, kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi của Hàn Quốc sang Việt Nam năm 2025 đã đạt 27,2 triệu USD. Động lực chính đến từ dự báo: năm 2026, tổng số thú cưng tại Việt Nam có thể vượt 33 triệu con, trong khi quy mô thị trường được kỳ vọng tăng từ khoảng 500 triệu USD năm 2023 lên hơn 700 triệu USD vào năm 2027, tương đương tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 11% mỗi năm.
Không chỉ gia tăng về số lượng, thị trường còn chứng kiến sự chuyển dịch rõ rệt trong hành vi tiêu dùng, từ các sản phẩm cơ bản sang nhóm sản phẩm và dịch vụ giá trị cao. Tại Hà Nội và TP.HCM, nhu cầu đối với dịch vụ chăm sóc thú cưng như huấn luyện, khách sạn lưu trú, spa hay thú y đang tăng mạnh, với mức chi tiêu ngày càng cao và ổn định.
Tại buổi Tọa đàm trực tuyến chủ đề: “Bất cập thị trường thú cưng, quản lý thế nào?” mới đây, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam, cho biết chăn nuôi thú cưng, thú cảnh ở Việt Nam là thị trường tiềm năng. Các năm gần đây, thị trường đều tăng trưởng từ 2 con số trở lên và hiện đang có hơn 2 triệu hộ gia đình tham gia thị trường này.

Năm 2026, tổng số thú cưng tại Việt Nam có thể vượt 33 triệu con.
Tuy nhiên, hiện nay thị trường thú cưng vẫn có những khoảng trống, đặc biệt trong việc cấp phép để điều trị, chữa trị cho chó, mèo và thú cưng. Bổ sung thêm góc nhìn của doanh nghiệp, ông Võ Văn Hải, Chủ tịch HĐQT Hệ thống Thú y 2Vet, nhận định trong 10 năm gần đây, ngày càng nhiều người dân quan tâm và sử dụng các dịch vụ chăm sóc thú cưng.
Nhưng nhìn chung, các phòng khám thú y tại Việt Nam có quy mô khá nhỏ đồng thời quá nhiều đầu mối kiểm tra. Doanh nghiệp đề xuất có một cơ quan đại diện quản lý các đầu mối. Ngoài ra, hiện chưa có văn bản pháp lý riêng cho ngành nên các doanh nghiệp vẫn đang chấp hành theo hệ thống quy định chung, hệ thống này chưa phản ánh đúng đặc thù ngành.
Các chứng chỉ hành nghề cũng chưa phân hóa theo các ngành chuyên môn, chưa có sự phân biệt giữa chăn nuôi thú y, các loại động vật, gia súc, gia cầm với thú cưng. Thứ ba, cần có cơ chế tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu vaccine phòng bệnh cho chó mèo, cần hạn chế các vấn đề lây nhiễm từ chó mèo sang người.
Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/viet-nam-trong-lan-song-tang-truong-kinh-te-thu-cung.htm











