Việt Nam - Trung Quốc cùng xây dựng chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất ổn định
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu chịu sức ép từ cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, biến động thương mại và nguy cơ đứt gãy logistics, Việt Nam và Trung Quốc đang thúc đẩy hợp tác cùng xây dựng chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất an toàn, ổn định. Đây không chỉ là yêu cầu đối với quan hệ kinh tế, thương mại hai nước mà còn góp phần củng cố sức chống chịu của chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc và Phó Thủ tướng Thường trực Đinh Tiết Tường tại cuộc hội đàm
Tính bổ trợ cao trong hợp tác đầu tư chuỗi cung ứng
Tại cuộc hội đàm với Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ngày 16-9 tại Nam Ninh nhân dịp cùng dự Hội chợ Trung Quốc - ASEAN (CAEXPO) và Hội nghị Thượng đỉnh Thương mại - Đầu tư Trung Quốc - ASEAN (CABIS) lần thứ 23, Phó Thủ tướng Thường trực Quốc vụ viện Trung Quốc Đinh Tiết Tường khẳng định Trung Quốc sẵn sàng cùng Việt Nam xây dựng chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất ổn định; đẩy nhanh triển khai mô hình cửa khẩu thông minh và khu hợp tác kinh tế qua biên giới. Trung Quốc cũng hoan nghênh Việt Nam tham gia chuỗi hoạt động “Chia sẻ thị trường lớn - Xuất khẩu Trung Quốc” và sẵn sàng tăng nhập khẩu nông sản chất lượng cao của Việt Nam.
Phát biểu trên cho thấy hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đang đứng trước yêu cầu chuyển từ mở rộng quy mô giao thương sang liên kết sâu hơn giữa các nền kinh tế. Trong gần 4 thập kỷ, quan hệ ASEAN - Trung Quốc đã trở thành một trong những không gian hợp tác kinh tế năng động nhất. Kim ngạch thương mại hai bên tăng hơn 130 lần, lần đầu vượt 1.000 tỷ USD năm 2025, đưa ASEAN và Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn của nhau. Trong tổng thể đó, Việt Nam có vị trí quan trọng. Là nền kinh tế có độ mở cao, nằm trên các tuyến kết nối giữa Trung Quốc và ASEAN, Việt Nam vừa là thị trường lớn, vừa là điểm sản xuất, trung chuyển và kết nối ngày càng quan trọng trong khu vực. Quy mô hợp tác Việt Nam - Trung Quốc đang tăng nhanh. Trong 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đạt 216 tỷ USD, tăng hơn 35% so với cùng kỳ năm 2025. Trung Quốc có hơn 7.000 dự án đầu tư tại Việt Nam, với tổng vốn khoảng 37 tỷ USD.
Tuy nhiên, ý nghĩa của quan hệ kinh tế hai nước không chỉ nằm ở những con số về kim ngạch hay vốn đầu tư. Điều đáng chú ý hơn là tính bổ trợ ngày càng rõ giữa hai nền kinh tế. Trung Quốc có thế mạnh về công nghiệp chế tạo, hệ thống cung ứng linh kiện, nguyên vật liệu, công nghệ và năng lực sản xuất quy mô lớn. Việt Nam có lợi thế về vị trí địa kinh tế, nguồn nhân lực, thị trường, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do và khả năng ngày càng lớn trong các công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng cao.
Sự bổ trợ này càng có ý nghĩa trong những ngành công nghiệp mới như điện tử, công nghệ số và bán dẫn. Việt Nam đang xác định bán dẫn là lĩnh vực chiến lược, hướng tới phát triển mạnh các khâu thiết kế, đóng gói, kiểm thử và đào tạo nhân lực. Trong khi đó, Trung Quốc có hệ sinh thái công nghiệp điện tử phát triển, năng lực đóng gói, kiểm thử và sản xuất quy mô lớn. Nếu được kết nối hiệu quả, lợi thế của hai bên có thể bổ sung cho nhau thay vì cạnh tranh trực tiếp, qua đó hình thành những mắt xích mới trong chuỗi giá trị khu vực. Định hướng này đã được lãnh đạo cấp cao hai nước xác lập. Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc tháng 4-2025 nhấn mạnh việc đưa hợp tác khoa học - công nghệ trở thành điểm nhấn mới, mở rộng hợp tác trong AI, chất bán dẫn và năng lượng hạt nhân. Đến tháng 4-2026, hai bên tiếp tục nâng cấp hợp tác trong sản xuất thông minh, kinh tế số, AI, công nghệ lượng tử, chất bán dẫn và đường sắt cao tốc; đồng thời nhất trí cùng xây dựng chuỗi cung ứng và công nghiệp an toàn, ổn định, thành lập Nhóm công tác hợp tác chuỗi cung ứng.
Xây dựng chuỗi cung ứng nhiều kết nối và đa dạng hơn
Chuỗi cung ứng muốn ổn định không thể chỉ dựa vào các hợp đồng thương mại. Hạ tầng giao thông, logistics, cửa khẩu, kho bãi, năng lượng và hạ tầng số phải đủ năng lực để bảo đảm dòng nguyên liệu và hàng hóa lưu chuyển thông suốt.
Phát biểu tại CAEXPO và CABIS lần thứ 23, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị tăng cường kết nối hạ tầng ASEAN - Trung Quốc trên cả đường bộ, đường sắt, đường biển và hàng không, đặc biệt chú trọng giao thông xuyên biên giới, logistics và các hành lang kinh tế, qua đó hình thành chuỗi cung ứng khu vực ổn định, hiệu quả cao. Với Việt Nam, đây là yêu cầu càng cấp thiết khi thương mại với Trung Quốc ngày càng lớn. Kết nối tốt hơn sẽ giúp giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian vận chuyển và tăng khả năng đáp ứng những đơn hàng có yêu cầu cao về tốc độ.
Việc hai bên thúc đẩy 3 tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn kết nối Việt Nam - Trung Quốc gồm Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Đồng Đăng - Hà Nội và Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng vì vậy không chỉ có ý nghĩa giao thông. Đây là những tuyến kết nối trực tiếp với các hành lang kinh tế, cảng biển, trung tâm sản xuất và thị trường, tạo thêm năng lực cho chuỗi cung ứng.
Cùng với đường sắt, mô hình cửa khẩu thông minh và khu hợp tác kinh tế qua biên giới cần được đẩy nhanh. Khi cửa khẩu được số hóa, thủ tục thông quan được rút ngắn, logistics được kết nối và doanh nghiệp có thể tổ chức sản xuất xuyên biên giới hiệu quả hơn, khu vực biên giới sẽ không còn đơn thuần là nơi giao nhận hàng hóa mà có thể trở thành những trung tâm sản xuất và logistics mới. Khi quy mô thương mại giữa hai nước đã rất lớn, yêu cầu đặt ra không còn đơn thuần là làm sao để trao đổi nhiều hàng hóa hơn, mà là làm sao để mỗi đồng vốn, mỗi dự án và mỗi tuyến kết nối tạo ra giá trị lớn hơn cho cả hai nền kinh tế. Nói cách khác, hợp tác Việt Nam - Trung Quốc cần chuyển mạnh từ “tăng quy mô” sang “nâng chất lượng”; từ giao thương đơn thuần sang kết nối chiến lược giữa các hành lang kinh tế, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng và hạ tầng.
Với Việt Nam, điều đó trước hết là tăng cường thu hút dòng vốn Trung Quốc vào những lĩnh vực phù hợp với định hướng phát triển, nhất là công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất thông minh, kinh tế số và những ngành có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn. Đi cùng với vốn đầu tư phải là công nghệ, kỹ năng quản trị, đào tạo nhân lực và sự tham gia ngày càng sâu của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng. Nếu doanh nghiệp Việt Nam chỉ thực hiện những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, lợi ích từ việc mở rộng chuỗi sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu từng bước nâng cao năng lực thiết kế, công nghệ, quản trị và sản xuất linh kiện, Việt Nam sẽ có vị trí vững chắc hơn trong chuỗi giá trị. Mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là bán được nhiều hơn, mà là tạo dựng những chuỗi sản xuất có khả năng duy trì và phát triển lâu dài.
Một chuỗi cung ứng ổn định không có nghĩa là khép kín hay tách khỏi thị trường toàn cầu. Ngược lại, đó là chuỗi có nhiều kết nối hơn, đa dạng hơn, hạ tầng tốt hơn và đủ khả năng chống chịu trước những cú sốc bên ngoài. Trong bối cảnh đó, Việt Nam và Trung Quốc có cơ hội lớn để kết nối lợi thế của hai nền kinh tế với không gian ASEAN. Việt Nam có thể đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa thị trường Trung Quốc và Đông Nam Á; Trung Quốc có thể bổ sung năng lực sản xuất, công nghệ, vốn và thị trường cho các chuỗi giá trị khu vực.
Một chuỗi cung ứng ổn định cần được hình thành từ những tuyến đường sắt được triển khai, những cửa khẩu được hiện đại hóa, những thủ tục được đơn giản hóa, những doanh nghiệp được kết nối và những công nghệ được chuyển giao hiệu quả. Vì vậy, xây dựng chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất ổn định Việt Nam - Trung Quốc không chỉ là hợp tác thương mại song phương. Đó còn là bước đi nhằm nâng cấp liên kết kinh tế giữa hai nước, mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp, củng cố sức chống chịu của chuỗi giá trị ASEAN và góp phần duy trì sự ổn định của chuỗi cung ứng toàn cầu trong một thế giới nhiều biến động.
