Việt Nam xếp thứ 43 về đổi mới sáng tạo toàn cầu

Việt Nam tăng 2 bậc về chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo trong Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026, được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố ngày 29/9.

Bảng so sánh thứ hạng GII của các nền kinh tế thu nhập trung bình qua các năm 2013, 2019 và 2026 theo WIPO. Việt Nam đạt vị trí thứ 43 năm 2026, cải thiện đáng kể so với vị trí thứ 76 năm 2013.

Bảng so sánh thứ hạng GII của các nền kinh tế thu nhập trung bình qua các năm 2013, 2019 và 2026 theo WIPO. Việt Nam đạt vị trí thứ 43 năm 2026, cải thiện đáng kể so với vị trí thứ 76 năm 2013.

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) Vũ Hải Quân, kết quả này phản ánh những chuyển biến bước đầu từ việc triển khai quyết liệt Nghị quyết 57, song để đạt mục tiêu vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu thế giới năm 2030 và nhóm 30 quốc gia năm 2045, cần tiếp tục nâng cao chất lượng nhân lực, năng lực nghiên cứu và đặc biệt là sự tham gia của doanh nghiệp.

Đầu ra đổi mới sáng tạo tăng 2 bậc

Theo kết quả công bố của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ngày 29/9/2026, Việt Nam xếp thứ 43/139 quốc gia, nền kinh tế trong bảng xếp hạng GII 2026, tăng một bậc so với năm 2025. Đáng chú ý, chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng 2 bậc, từ vị trí 37 lên 35.

Đánh giá về kết quả này, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho rằng, việc chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo tăng hai bậc là kết quả rất đáng ghi nhận, đến từ tinh thần triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW quyết liệt trong hơn một năm qua.

Theo Bộ trưởng, có ba yếu tố quan trọng góp phần tạo nên kết quả này. Thứ nhất, nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã có bước tăng mạnh mẽ. Thứ hai, hệ thống chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực này đang từng bước được hoàn thiện. Thứ ba, sự tham gia của các chủ thể, từ Nhà nước, doanh nghiệp đến viện nghiên cứu, trường đại học, đã góp phần bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Những chuyển biến này được phản ánh qua kết quả GII năm 2026. Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí thứ hai trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp và đứng thứ ba ASEAN, sau Singapore và Malaysia. Đặc biệt, Việt Nam là một trong ba quốc gia có thành tích đổi mới sáng tạo vượt trội so với mức độ phát triển, đồng thời duy trì kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn mức độ phát triển trong 16 năm liên tiếp.

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, kết quả tăng hạng mới chỉ là bước đầu. Để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu về GII vào năm 2030 và nhóm 30 quốc gia vào năm 2045, vẫn còn nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết.

Doanh nghiệp cần thực sự vào cuộc

Từ kết quả phân tích GII năm 2026, Bộ trưởng Vũ Hải Quân chỉ ra một số hạn chế cần khắc phục, trong đó trước hết là chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành công nghệ chiến lược.

Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, chú trọng đội ngũ nhân lực có trình độ sau đại học, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và phát triển công nghệ.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế và gia tăng số lượng bằng sáng chế. Đây là những sản phẩm phản ánh trực tiếp năng lực nghiên cứu, sáng tạo và khả năng tạo ra tri thức mới của quốc gia.

Đáng chú ý, Bộ trưởng nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo ông, sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia.

Trong giai đoạn tới, doanh nghiệp Việt Nam cần tăng cường đầu tư cả về tài chính và nhân lực cho nghiên cứu, phát triển; từng bước đưa công nghệ và chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng giá trị và năng suất lao động.

“Chỉ khi các doanh nghiệp thực sự vào cuộc, tôi nghĩ rằng chúng ta mới có thể đạt được các mục tiêu về đổi mới sáng tạo theo tầm nhìn đến năm 2030 và năm 2045”, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nhấn mạnh.

Thực tế, GII 2026 cũng cho thấy những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ. Trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế; đầu tư mạo hiểm chưa có xu hướng cải thiện rõ nét; năng lực hấp thụ tri thức từ doanh nghiệp nước ngoài còn yếu. Các chỉ số về công bố bài báo khoa học và sáng chế cũng chưa có chuyển biến tích cực tương xứng.

Những hạn chế này đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ cải thiện các điều kiện đầu vào sang tạo ra kết quả đổi mới sáng tạo thực chất. Việc hoàn thiện thể chế, tăng đầu tư cho R&D, nâng cao năng lực nghiên cứu của viện, trường và thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp sẽ là những nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới.

Với mục tiêu GII vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu thế giới năm 2030, Việt Nam không chỉ cần duy trì đà cải thiện thứ hạng mà còn phải nâng cao chất lượng các sản phẩm khoa học, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Đây cũng là nền tảng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng góp ngày càng rõ nét vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.

Thu Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/viet-nam-xep-thu-43-ve-doi-moi-sang-tao-toan-cau.html