VietABank: Thu nhập lãi thuần đi ngang, nợ nhóm 3 tăng gấp 2,6 lần
Lợi nhuận sau thuế 9 tháng đầu năm 2026 của VietABank tăng 13,8%, nhưng thu nhập lãi thuần gần như đi ngang. Đáng chú ý, nợ nhóm 3 tăng gấp 2,6 lần, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm từ 91,2% xuống còn 54,8%.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2026, Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank) cho thấy 9 tháng đầu năm 2026, VietABank ghi nhận 1.191 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 956 tỷ đồng, tăng 13,8%.
Dù vậy, diễn biến trong quý III cho thấy áp lực rõ hơn. Lợi nhuận trước thuế đạt 366 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt 296 tỷ đồng, tăng 10,1%. Trong khi đó, thu nhập lãi thuần chỉ đạt 534 tỷ đồng, giảm 16,3% so với mức 639 tỷ đồng của quý III/2025.

VietABank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý III/2026 tăng 9% nhờ hoàn nhập dự phòng rủi ro tín dụng.
Tính chung 9 tháng, thu nhập lãi thuần đạt 1.787 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,4% so với cùng kỳ. Điều này cho thấy nguồn thu từ hoạt động tín dụng và các hoạt động sinh lãi liên quan chưa tạo được mức tăng trưởng tương xứng với quy mô thu nhập lãi.
Cụ thể, thu nhập lãi trong 9 tháng tăng 26,7%, lên 8.074 tỷ đồng, nhưng chi phí lãi cũng tăng 37,3%, lên 6.287 tỷ đồng. Riêng quý III, chi phí lãi tăng 48,6%, trong khi thu nhập lãi tăng 30%. Chênh lệch giữa tốc độ tăng của hai khoản mục khiến thu nhập lãi thuần suy giảm.
Không chỉ nguồn thu cốt lõi chịu sức ép, hiệu quả hoạt động cũng có dấu hiệu đi xuống. Tổng thu nhập hoạt động quý III đạt 618 tỷ đồng, giảm 15,7%; chi phí hoạt động tăng 13,8%, lên 269 tỷ đồng. Lợi nhuận trước dự phòng rủi ro tín dụng vì vậy giảm 29,8%, còn 349 tỷ đồng.
Một trong những diễn biến đáng chú ý nhất trong báo cáo là sự gia tăng của nợ cần chú ý và nợ xấu, đặc biệt ở nhóm nợ có khả năng gây tổn thất cao hơn.
Tại ngày 30/9/2026, nợ cần chú ý (nhóm 2) của VietABank đạt 84,9 tỷ đồng, tăng từ 18,5 tỷ đồng cuối năm 2025, tương đương gấp 4,6 lần. Nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) tăng từ 505,8 tỷ đồng lên 1.302,1 tỷ đồng, gấp 2,6 lần.
Trong khi đó, nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng từ 5,9 tỷ đồng lên 7,9 tỷ đồng. Nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) giảm mạnh từ 652,1 tỷ đồng xuống 23,9 tỷ đồng.
Tính chung, tổng nợ xấu thuộc nhóm 3–5 đạt 1.333,8 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cuối năm 2025.
Mặc dù tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1,31% lên 1,38%, nhưng dự phòng cho vay giảm từ 1.061,1 tỷ đồng cuối năm 2025 xuống còn 731,6 tỷ đồng tại ngày 30/9/2026, tương đương giảm 31,1%. Đáng chú ý, tỷ lệ dự phòng trên nợ xấu giảm từ 91,2% xuống 54,8%, tức giảm 36,4 điểm phần trăm.
Bên cạnh chất lượng tín dụng, sự chênh lệch giữa thu nhập lãi ghi nhận và dòng tiền thực thu là một điểm cần lưu ý trong báo cáo tài chính của VietABank.
Tại ngày 30/9/2026, lãi và phí phải thu đạt 9.713 tỷ đồng, tăng từ 4.837 tỷ đồng đầu năm, tương đương tăng 4.876 tỷ đồng. Khoản mục này chiếm 6,2% tổng tài sản, so với 3,4% cuối năm 2025.
Trong khi đó, lãi thực thu trong 9 tháng chỉ đạt 3.198 tỷ đồng, tương đương khoảng 40% thu nhập lãi ghi nhận là 8.074 tỷ đồng. Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với mức khoảng 77% của cùng kỳ năm 2025.
Theo nguyên tắc kế toán, ngân hàng có thể ghi nhận thu nhập lãi trước khi thực nhận tiền. Phần lãi đã ghi nhận nhưng chưa thu được thường được gọi là lãi dự thu và được phản ánh trong khoản mục lãi, phí phải thu trên bảng cân đối kế toán.
Sự gia tăng của lãi và phí phải thu trong khi dòng tiền thu lãi thấp hơn thu nhập lãi ghi nhận đặt ra yêu cầu theo dõi khả năng chuyển hóa thu nhập thành tiền thực tế tại VietABank. Khoản chênh lệch có thể liên quan đến đặc điểm kỳ hạn thu lãi của một số khoản vay hoặc khoản đầu tư, nhưng tài liệu được phân tích chưa giải thích đầy đủ nguyên nhân.
Trong bối cảnh nợ nhóm 2 và nhóm 3 cùng tăng, khả năng thu hồi các khoản lãi phải thu là vấn đề đáng quan tâm. Tuy nhiên, những số liệu này chưa thể kết luận toàn bộ khoản lãi phải thu có vấn đề về khả năng thu hồi.
Tại Văn bản số 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10/2026, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt chẽ các khoản lãi dự thu, đặc biệt là những khoản có giá trị lớn, kéo dài hoặc tiềm ẩn nguy cơ khó thu hồi; thực hiện đúng quy định về ghi nhận, hạch toán và thoái lãi dự thu. Cơ quan quản lý đồng thời yêu cầu phân loại nợ, trích lập dự phòng đầy đủ, phản ánh trung thực chất lượng tín dụng và kết quả kinh doanh.


