VIFTA: Từ cánh cửa thương mại đến cầu nối công nghệ và chuỗi giá trị

Từ những ưu đãi thương mại, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) đang mở ra dư địa hợp tác sâu rộng hơn về công nghệ, đầu tư và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành năng lực cạnh tranh thực chất, doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển từ tiếp nhận công nghệ sang hấp thụ, làm chủ và cùng phát triển công nghệ, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Các công ty công nghệ về nông nghiệp của Israel đang tìm kiếm cơ hội đầu tư ở Việt Nam

Các công ty công nghệ về nông nghiệp của Israel đang tìm kiếm cơ hội đầu tư ở Việt Nam

Thương mại tăng trưởng, dư địa hợp tác còn rộng mở

VIFTA chính thức có hiệu lực từ ngày 17/11/2024, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Israel. Việt Nam cũng là quốc gia đầu tiên trong ASEAN ký kết hiệp định thương mại tự do với Israel, tạo thêm khuôn khổ thuận lợi để doanh nghiệp hai bên tiếp cận thị trường, mở rộng đầu tư và tăng cường kết nối kinh doanh.

Tại tọa đàm “Từ hợp tác công nghệ đến phát triển chuỗi giá trị: Phát huy vai trò của VIFTA trong nâng cao năng lực sản xuất của Việt Nam”, do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 29/10/2026, các chuyên gia cho rằng, VIFTA đang mở ra những cơ hội mới để hai nền kinh tế phát huy lợi thế bổ trợ, chuyển từ giao dịch thương mại đơn thuần sang hợp tác công nghệ, nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Tuy nhiên, để những cơ hội này trở thành động lực tăng trưởng thực chất, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, tăng cường liên kết và chủ động tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao.

Theo ông Lê Thái Hòa, Tham tán thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel, sau gần hai năm thực thi, VIFTA đã tạo xung lực cho hợp tác song phương, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại hàng hóa. Việc cắt giảm thuế quan theo lộ trình, cùng các ưu đãi về thuế và hạn ngạch, giúp nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh, tiếp cận thị trường Israel thuận lợi hơn.

Ông Lê Thái Hòa, Tham tán thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel

Ông Lê Thái Hòa, Tham tán thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel

Số liệu được chia sẻ tại tọa đàm cho thấy, kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều Việt Nam - Israel năm 2024 đạt 3,25 tỷ USD, tăng gần 21% so với năm trước. Năm 2025, con số này tăng lên 3,63 tỷ USD, tăng 11,8%. Trong 10 tháng đầu năm 2026, kim ngạch đạt 3,5 tỷ USD và dự kiến cả năm có thể đạt khoảng 4,4 tỷ USD, tăng trên 21% so với năm 2025. Đáng chú ý, xuất khẩu của Việt Nam sang Israel có những chuyển biến tích cực. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu đạt 795 triệu USD, tăng 25,9%; năm 2025 đạt 865 triệu USD, tăng 8,9%. Trong 10 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đã vượt 1 tỷ USD và dự kiến cả năm có thể đạt khoảng 1,3 tỷ USD.

Theo ông Chen Peretz, Tham tán thương mại, Trưởng Văn phòng Kinh tế Israel tại Việt Nam, sự quan tâm của doanh nghiệp Israel đối với thị trường Việt Nam đang gia tăng. Bên cạnh những doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội tiêu thụ sản phẩm, đã có doanh nghiệp sử dụng đội ngũ công nghệ thông tin tại Việt Nam để phát triển sản phẩm, hoặc lựa chọn Việt Nam làm địa điểm sản xuất nhờ năng lực và nguồn nhân lực có tay nghề.

Mục tiêu trong giai đoạn tới, theo ông Chen Peretz, là thúc đẩy nhiều hơn những mô hình hợp tác kết hợp cả sản xuất và phát triển sản phẩm tại Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp Israel không chỉ bán hàng cho thị trường Việt Nam mà còn có thể tận dụng Việt Nam làm cứ điểm sản xuất, mở rộng tiếp cận các thị trường khu vực và toàn cầu.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, hợp tác cần vượt ra ngoài các giao dịch thương mại thông thường, hướng tới liên doanh, nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và đồng phát triển sản phẩm. Đây cũng là hướng đi để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị, thay vì chỉ tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.

Lễ ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) năm 2023

Lễ ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) năm 2023

Nâng cao năng lực hấp thụ để từng bước làm chủ công nghệ

Theo PGS.TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, giá trị lớn nhất của VIFTA không chỉ nằm ở việc mở rộng thị trường hay giảm thuế, mà còn ở khả năng tạo điều kiện để Việt Nam tiếp cận, hấp thụ, làm chủ và từng bước phát triển công nghệ.

Sự khác biệt giữa mua bán thiết bị công nghệ và hợp tác phát triển công nghệ có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh dài hạn. Nếu chỉ nhập khẩu máy móc, phần mềm hoặc dây chuyền sản xuất, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, chất lượng và hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, nếu không đủ năng lực tiếp thu, cải tiến và phát triển, doanh nghiệp vẫn có nguy cơ phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài.

PGS.TS. Ngô Trí Long

PGS.TS. Ngô Trí Long

PGS.TS. Ngô Trí Long chỉ ra bốn điểm nghẽn lớn trong năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Thứ nhất là tư duy quản trị và cách tiếp cận công nghệ còn hạn chế. Thứ hai là nguồn lực tài chính dành cho nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo còn khó khăn, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đầu tư công nghệ thường đi kèm rủi ro và thời gian thu hồi vốn dài.

Thứ ba, liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học chưa chặt chẽ. Thứ tư, sự hợp tác giữa các đối tác trong nước và nước ngoài chưa phát huy đầy đủ hiệu quả. Những hạn chế này khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc chuyển từ ứng dụng công nghệ sang làm chủ, cải tiến và thương mại hóa công nghệ.

Từ thực tế đó, chuyên gia cho rằng hợp tác Việt Nam – Israel cần gắn chuyển giao công nghệ với đào tạo nhân lực, mở rộng mạng lưới doanh nghiệp tham gia và xây dựng chính sách hỗ trợ nghiên cứu chung, cải tiến công nghệ, phát triển nhà cung cấp trong nước.

Từ hợp tác song phương đến chuỗi giá trị có sức lan tỏa

Một trong những yêu cầu đặt ra đối với việc thực thi VIFTA là làm sao để lợi ích từ hợp tác công nghệ không chỉ dừng lại ở một số doanh nghiệp, mà có thể lan tỏa tới hệ sinh thái sản xuất trong nước. Từ góc nhìn của doanh nghiệp Israel, Việt Nam không chỉ là thị trường tiêu thụ mà còn có thể trở thành địa điểm sản xuất, phát triển sản phẩm và bàn đạp để tiếp cận các thị trường khu vực. Ông Chen Peretz cho biết, mức độ quan tâm của doanh nghiệp Israel đối với thị trường Việt Nam đang gia tăng. Một số doanh nghiệp đã sử dụng đội ngũ công nghệ thông tin tại Việt Nam để phát triển sản phẩm, trong khi những doanh nghiệp khác tìm kiếm cơ hội cung cấp giải pháp hoặc đầu tư sản xuất.

Điều ông kỳ vọng là sự kết hợp giữa các hoạt động này: doanh nghiệp Israel cùng đối tác Việt Nam nghiên cứu, phát triển sản phẩm, tận dụng năng lực sản xuất và nguồn nhân lực tại chỗ, đồng thời khai thác thị trường Việt Nam cũng như các thị trường khu vực và quốc tế.

Ông Chen Peretz, Tham tán Thương mại, Trưởng Văn phòng Kinh tế Israel tại Việt Nam

Ông Chen Peretz, Tham tán Thương mại, Trưởng Văn phòng Kinh tế Israel tại Việt Nam

Để đạt mục tiêu đó, việc tìm kiếm đối tác có năng lực tại Việt Nam và bản địa hóa công nghệ được xem là yếu tố quan trọng. Một giải pháp thành công ở thị trường khác chưa chắc phù hợp hoàn toàn với điều kiện khí hậu, quy mô sản xuất, trình độ nhân lực và nhu cầu của doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, hợp tác cần gắn với thử nghiệm thực tế, điều chỉnh sản phẩm và chuyển giao kỹ thuật phù hợp.

Bên cạnh hợp tác trực tiếp giữa các doanh nghiệp, đại diện Israel cho rằng cần thúc đẩy sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu và khu vực tư nhân. Những cơ chế khuyến khích phù hợp sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia các dự án nghiên cứu, phát triển công nghệ từ giai đoạn đầu, thay vì chỉ lựa chọn những sản phẩm đã hoàn thiện và được thương mại hóa.

Ở góc độ xúc tiến, ông Lê Thái Hòa cho biết, Thương vụ Việt Nam tại Israel sẽ tập trung hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế quan, cải thiện kết nối logistics, tìm kiếm đối tác công nghệ đã được kiểm chứng và thúc đẩy các chương trình hợp tác nghiên cứu chung, trao đổi chuyên gia. Đồng thời, cơ quan xúc tiến sẽ tăng cường cung cấp thông tin về thị trường, quy định xuất nhập khẩu, sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn kỹ thuật để doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro.

Có thể thấy, VIFTA đã tạo khuôn khổ thuận lợi để thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam – Israel, nhưng hiệp định không tự động chuyển cơ hội thành năng lực cạnh tranh. Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào mức độ chủ động của doanh nghiệp, khả năng hấp thụ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả phối hợp giữa các bên.

Nguyễn Minh

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/vifta-tu-canh-cua-thuong-mai-den-cau-noi-cong-nghe-va-chuoi-gia-tri-189867.html