VINATOM: 50 năm xây nền móng, sẵn sàng cho kỷ nguyên hạt nhân mới
Sau nửa thế kỷ phát triển, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) không chỉ góp phần đưa công nghệ hạt nhân vào y tế, nông nghiệp, công nghiệp và môi trường mà còn đang chuẩn bị nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng để đồng hành cùng Chương trình điện hạt nhân quốc gia trong giai đoạn mới.


Thưa ông, nhìn lại chặng đường 50 năm hình thành và phát triển của VINATOM, đâu là những dấu mốc quan trọng nhất đã góp phần khẳng định vai trò của Viện trong sự phát triển khoa học, công nghệ hạt nhân và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước?
Năm mươi năm là một dấu mốc rất đặc biệt, nhưng với chúng tôi, đây không chỉ là câu chuyện nhìn lại chặng đường đã qua mà còn là thời điểm để xác định trách nhiệm trong giai đoạn phát triển mới.
Năm 1976, khi đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, còn vô vàn khó khăn, Đảng và Nhà nước vẫn quyết định thành lập Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Đó là một quyết định có tầm nhìn rất xa, bởi ngay trong giai đoạn khó khăn nhất, Việt Nam vẫn lựa chọn đầu tư cho khoa học, đầu tư cho tri thức và chuẩn bị cho tương lai.
Trong suốt 50 năm qua, từ những điều kiện ban đầu còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực, các thế hệ cán bộ của VINATOM đã không ngừng nỗ lực vượt qua thử thách, xây dựng nên một hệ thống các đơn vị nghiên cứu, triển khai và dịch vụ khoa học công nghệ hạt nhân có uy tín trong nước và từng bước hội nhập với khu vực và thế giới. Có nhiều thành quả không xuất hiện trên báo chí nhưng lại góp phần tạo nên nền tảng khoa học mà hôm nay đất nước đang cần hơn bao giờ hết.
Một trong những dấu ấn quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của VINATOM là việc khôi phục, nâng cấp và vận hành an toàn, hiệu quả Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt năm 1984. Trong hơn bốn thập kỷ qua, công trình khoa học đặc biệt này đã trở thành trung tâm nghiên cứu hạt nhân quan trọng nhất của đất nước, phục vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, đào tạo nguồn nhân lực, triển khai các ứng dụng như phân tích kích hoạt neutron, chiếu xạ, nghiên cứu vật liệu và đặc biệt là sản xuất các đồng vị phóng xạ phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư cho hàng triệu người dân Việt Nam.
Từ nền tảng đó, Viện đã xây dựng và phát triển hệ thống các đơn vị nghiên cứu chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực như vật lý hạt nhân, công nghệ lò phản ứng, kỹ thuật hạt nhân, công nghệ bức xạ, ứng dụng đồng vị phóng xạ, an toàn bức xạ và hạt nhân, khoa học vật liệu, môi trường và nhiều lĩnh vực liên quan khác.

Trong lĩnh vực y tế, nghiên cứu và điều chế thành công trên 30 chủng loại đồng vị phóng xạ và dược chất đánh dấu, cung cấp định kỳ sản phẩm dược chất cho hàng chục bệnh viện trên toàn quốc phục vụ chẩn đoán và điều trị ung thư. Trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19, khi nguồn cung quốc tế bị gián đoạn, Viện đã tăng công suất vận hành lò để đáp ứng từ 80-100% nhu cầu trong nước. Nhiều sản phẩm như I-131 đã được Bộ Y tế vinh danh là “Ngôi sao thuốc Việt”.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, các kết quả nghiên cứu chọn tạo giống bằng kỹ thuật hạt nhân và bức xạ đã góp phần tạo ra nhiều giống cây trồng quan trọng như lúa và đậu tương, có năng suất và chất lượng cao, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu. Đặc biệt, gạo ST25 được lai tạo từ các giống đột biến hiện nay được quốc tế đánh giá là loại gạo ngon nhất thế giới.
Trong lĩnh vực công nghiệp, các kỹ thuật đánh dấu phóng xạ, kiểm tra không phá hủy và các ứng dụng đồng vị đã hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động sản xuất của nhiều ngành kinh tế trọng điểm. Dây chuyền chiếu xạ công nghiệp VINAGA1 được nghiên cứu và chế tạo và sử dụng tại Việt Nam để khử trùng vật phẩm y tế và thanh trùng thực phẩm, hiện đang vận hành hiệu quả với công suất lớn tại Việt Nam.
Trong lĩnh vực môi trường và an toàn bức xạ, Viện đã xây dựng và vận hành Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia với các trạm quan trắc hiện đại, đóng vai trò nòng cốt trong việc hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường.
Trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, VINATOM đã góp phần xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành về khoa học và công nghệ hạt nhân, nhiều người trong số đó đã trở thành những nhà khoa học có uy tín trong nước và quốc tế. Duy trì số lượng công bố quốc tế cao (đạt gần 100 bài ISI/năm).
Đặc biệt, trong nhiều năm qua, VINATOM đã tham gia tích cực vào quá trình chuẩn bị tiềm lực khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng phục vụ Chương trình điện hạt nhân quốc gia, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho các quyết sách phát triển năng lượng nguyên tử của đất nước.

Ông từng nói thế kỷ XXI sẽ là thời đại của khoa học và công nghệ hạt nhân. Điều gì khiến ông đưa ra nhận định đó?
Trong nhiều năm, khi nói đến năng lượng nguyên tử, nhiều người thường chỉ nghĩ đến điện hạt nhân, nhưng thế giới hiện nay đã thay đổi rất nhiều. Nếu thế kỷ XX được xem là thời đại của điện hạt nhân thì thế kỷ XXI sẽ là thời đại của khoa học và công nghệ hạt nhân, của cả một hệ sinh thái công nghệ hạt nhân.
Ngày nay, công nghệ hạt nhân hiện diện trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống. Đó là các dược chất phóng xạ phục vụ chẩn đoán và điều trị ung thư; công nghệ bức xạ tạo giống đột biến góp phần bảo đảm an ninh lương thực, cũng như bảo đảm an toàn thực phẩm; kỹ thuật hạt nhân phục vụ quan trắc môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu; các vật liệu chiến lược cho công nghiệp công nghệ cao; hay việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, mô hình số (Digital Twin) trong thiết kế, vận hành và bảo đảm an toàn các hệ thống hạt nhân.
Có thể nói, khoa học và công nghệ hạt nhân là những công cụ mạnh và hiệu quả, nhiều khi là duy nhất, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Vai trò của năng lượng nguyên tử ngày càng rộng hơn và gắn chặt với các công nghệ chiến lược mà nhiều quốc gia đang ưu tiên phát triển.
Lễ kỷ niệm 50 năm không chỉ là một dấu mốc của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam mà còn diễn ra đúng thời điểm chương trình điện hạt nhân được tái khởi động. Đối với ngành năng lượng nguyên tử, đây có thể nói là cơ hội lớn nhất trong nhiều thập kỷ qua.

Trong bối cảnh đó, vai trò của VINATOM trong giai đoạn tới là gì, thưa ông?
Chúng tôi không chỉ mong muốn trở thành một viện nghiên cứu mạnh, mục tiêu của VINATOM là trở thành tổ chức khoa học và công nghệ hạt nhân có vai trò dẫn dắt, hướng đến các chiến lược của quốc gia, đủ năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong quá trình xây dựng nền công nghiệp hạt nhân hiện đại.
Chúng tôi mong muốn từng bước làm chủ các công nghệ điện hạt nhân tiên tiến (lò hạt nhân thế hệ III+, thế hệ IV), trong đó có công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR). Đây là một trong những hướng công nghệ rất quan trọng của thế giới hiện nay.
Bên cạnh đó, Viện sẽ tiếp tục phát triển các ứng dụng hạt nhân trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp và tài nguyên môi trường; làm chủ công nghệ chế biến sâu đất hiếm, titan để tạo ra các vật liệu chiến lược; phát triển các thế hệ dược chất phóng xạ mới nhiều chủng loại phục vụ chẩn đoán và điều trị ung thư cho Việt Nam và các nước khu vực.
Một nhiệm vụ rất quan trọng khác là triển khai Trung tâm Nghiên cứu khoa học và công nghệ hạt nhân với lò phản ứng nghiên cứu mới. Đây sẽ là hạ tầng nghiên cứu hiện đại, đồng thời tạo nền tảng cho đào tạo nguồn nhân lực và phát triển nhiều công nghệ hạt nhân mới trong tương lai.

Theo ông, yếu tố nào sẽ quyết định khả năng hiện thực hóa các mục tiêu này?
Theo tôi, yếu tố quyết định vẫn là con người. Một chương trình điện hạt nhân hay một ngành công nghiệp hạt nhân không thể thành công nếu thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi. Để có những chuyên gia giỏi, đầu đàn, chúng ta phải kiên trì đào tạo, bồi dưỡng nhiều thập kỷ. Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực luôn là nhiệm vụ xuyên suốt của Viện trong 50 năm qua và sẽ càng quan trọng hơn trong giai đoạn tới.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam triển khai Chương trình phát triển điện hạt nhân và thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật hạt nhân, thì đội ngũ cán bộ hùng hậu và giỏi chuyên môn là yêu cầu cấp bách. Đối với điện hạt nhân, các chủ đầu tư cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tập trung vào đào tạo đại học theo chuyên ngành điện hạt nhân.
Hiện nay, Việt Nam sắp gửi sinh viên sang học ở Liên bang Nga, tuy nhiên về lâu dài, cần có cơ sở đào tạo về công nghệ điện hạt nhân (Nuclear Engineering) trong nước. Vì Chương trình điện hạt nhân kéo dài hàng trăm năm, không thể không tự chủ về đào tạo đại học trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, theo quan điểm của VINATOM, Việt Nam cần mở Khoa Công nghệ điện hạt nhân (Department of Nuclear Engineering- DNE) tại hai trường đại học kỹ thuật tốt nhất trong nước.
Các trường đại học khác vẫn tham gia vào đào tạo nhân lực cho điện hạt nhân, tuy nhiên sẽ theo lĩnh vực nổi trội của từng trường, có bổ sung thêm các môn học về hạt nhân để có nền tảng. Các trường có Khoa Công nghệ điện hạt nhân sẽ đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt cho nhà máy điện hạt nhân (khoảng 200-300 người/1 tổ máy). Số lượng còn lại (khoảng 600-700 người) do các trường chuyên ngành đào tạo và sẽ có vai trò nhiệm vụ khác trong nhà máy (các hệ thống thiết bị ngoài lò hạt nhân, phụ trợ, bảo dưỡng sửa chữa...
Sau khi tốt nghiệp đại học, các cử nhân, kỹ sư sẽ tiếp tục được bồi dưỡng nâng cao và chuyên sâu tại các cơ sở đào tạo khác ở trong và ngoài nước để có đủ năng lực đảm nhận nhiệm vụ tại nhà máy. Để đào tạo được đội ngũ cao cấp nhất (ví dụ vận hành lò hạt nhân), có thể mất hơn 10 năm. Đây là cách tiếp cận hiệu quả nhất cho vấn đề đào tạo nhân lực điện hạt nhân.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước về hạt nhân và đội ngũ cán bộ nghiên cứu (R&D), cách đào tạo có thể khác. Trước hết họ cần có nền tảng cơ bản về lĩnh vực hạt nhân. Đội ngũ này có thể được đào tạo đào học theo cách trên hoặc từ các trường có chuyên môn phù hợp, sau đó bổ sung kiến thức và kinh nghiệm.
Đối với đội ngũ nghiên cứu, sau khi học xong đại học, cần được làm việc trong môi trường nghiên cứu để tiếp cận với những vấn đề khoa học, vấn đề an toàn hạt nhân… Họ có thể được đào tạo để trở thành người làm nghiên cứu giỏi theo nhiều hướng cần thiết do thực tiễn đặt ra (an toàn hạt nhân, ứng dụng năng lượng nguyên tử…).
Khi có trình độ đủ tốt, đội ngũ cán bộ nghiên cứu cần có cơ hội sang làm việc tại các tổ chức nghiên cứu tốt trên thế giới. Việt Nam cần mở ra các chương trình làm việc/đào tạo ở nước ngoài (trước đây có Quyết định 1756, nhưng sau năm 2016 đã dừng lại và hiện nay chưa có chương trình mới). Kiến thức, kinh nghiệm và tương tác quốc tế sẽ tạo ra những nhà khoa học đầu đàn.
Tuy nhiên, vấn đề thu hút sinh viên giỏi và cán bộ giỏi hiện nay đối với ngành hạt nhân là vấn đề khó khăn. Kinh nghiệm từ các nước có điện hạt nhân cho thấy cơ quan pháp quy hạt nhân thường sẽ tuyển chọn những cán bộ giỏi từ các cơ sở hạt nhân hoặc cơ sở nghiên cứu, có nhiều kinh nghiệm.
Để làm tốt quản lý nhà nước trong vấn đề an toàn hạt nhân, hoặc an toàn bức xạ, chúng tôi mong muốn xây dựng đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành, đủ năng lực tiếp cận và làm chủ những công nghệ tiên tiến nhất, đồng thời truyền lại tri thức cho các thế hệ kế tiếp. Đó không chỉ là khát vọng mà còn là trách nhiệm của chúng tôi trước đất nước.

Bước sang chặng đường phát triển mới, VINATOM đã xác định tầm nhìn và những định hướng chiến lược nào đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045? Theo ông, đâu sẽ là những lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng và đầu tư trọng tâm để Viện tiếp tục giữ vai trò là đơn vị đầu ngành về khoa học và công nghệ hạt nhân của Việt Nam?
Trong thời gian tới, ngoài những nhiệm vụ thường xuyên đang triển khai về nghiên cứu ứng dụng năng lượng nguyên tử, VINATOM sẽ tập trung nỗ lực giải quyết các nhiệm vụ lớn đã đặt ra, đó là: triển khai thành công dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân (CNST), với lò nghiên cứu mới 15 MWt tại Đồng Nai; nghiên cứu công nghệ, đánh giá an toàn, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân lực cho các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận; nghiên cứu phát triển công nghệ lò module nhỏ (SMR) đưa vào triển khai ở Việt Nam; nghiên cứu làm chủ công nghệ đất hiếm, titan, urani đưa vào sản xuất, tạo ra sản phẩm chiến lược; hoàn thiện và vận hành Mạng quan trắc cảnh báo phóng xạ quốc gia theo đúng chuẩn mực quốc tế; từng bước nội địa hóa, sản xuất chế tạo các thiết bị hạt nhân, thiết bị ghi đo bức xạ, thương mại hóa; đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực năng lượng nguyên tử, đặc biệt chú trọng đội ngũ cán bộ nghiên cứu đầu đàn.
Tôi luôn tin rằng có những công trình sẽ hoàn thành, có những thiết bị sẽ được thay thế và các thế hệ cũng sẽ tiếp nối nhau; điều còn lại mãi mãi chính là khát vọng phụng sự Tổ quốc bằng khoa học, bằng tri thức, bằng trách nhiệm và tâm huyết của những người làm trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Đó là truyền thống đã làm nên VINATOM trong suốt nửa thế kỷ qua và cũng sẽ là nền tảng để VINATOM bước vào giai đoạn phát triển mới với một sứ mệnh lớn hơn: trở thành hạt nhân của nền khoa học và công nghệ hạt nhân quốc gia, đóng góp thiết thực cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và hiện đại của đất nước.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 28-2026 phát hành ngày 13/07/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-28-2026.html












