Vốn dài hạn cho các công trình trọng điểm
Việt Nam đang bước vào một trong những giai đoạn đầu tư hạ tầng có quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Từ đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, sân bay Long Thành, các tuyến vành đai Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đến cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, nhiều dự án quy mô lớn đang đồng thời được chuẩn bị hoặc triển khai trong giai đoạn 2026 - 2030.
Thu xếp nguồn lực cho dự án hạ tầng
Theo ước tính của VIS Rating công bố, Việt Nam cần khoảng 450 tỷ USD vốn đầu tư cho hạ tầng trong giai đoạn 2026 - 2030, trong đó khoảng 150 tỷ USD dự kiến đến từ khu vực tư nhân. Riêng thị trường vốn được kỳ vọng huy động khoảng 20 - 25 tỷ USD. Đây là một thách thức rất lớn nếu so với 5 năm trước đó (2021 - 2025), tổng nguồn vốn huy động cho hạ tầng qua phát hành trái phiếu và vốn cổ phần chỉ vỏn vẹn 3,9 tỷ USD.
Quy mô nhu cầu vốn này cho thấy bài toán của chu kỳ hạ tầng sắp tới không chỉ nằm ở việc phê duyệt và triển khai một số lượng lớn dự án, mà còn ở khả năng bố trí nguồn vốn, giải phóng mặt bằng, kiểm soát chi phí và đưa công trình vào vận hành đúng tiến độ.
Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cung ứng vốn. Theo số liệu thống kê, đến cuối tháng 9/2026, tổng vốn huy động của các ngân hàng trên cả nước đạt 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,7% so với cuối năm 2025; tín dụng toàn nền kinh tế đạt hơn 20,7 triệu tỷ đồng, tăng 11,7%.
Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Tín dụng, NHNN cho biết, để khuyến khích đầu tư hạ tầng, NHNN đã triển khai cơ chế loại trừ hoặc cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với NHTM tham gia tài trợ 35 công trình, dự án trọng điểm trên cả nước, với tổng nhu cầu vốn vay khoảng 1,7 triệu tỷ đồng.
Cơ chế này tạo thêm điều kiện để ngân hàng bố trí tín dụng cho những công trình có tính liên kết vùng và sức lan tỏa lớn. Sự tham gia của ngân hàng đang thể hiện qua nhiều thỏa thuận cụ thể. Đơn cử HDBank và Vikki Bank phối hợp tài trợ cho Công ty cổ phần Tập đoàn Sovico thực hiện dự án tuyến đường sắt đô thị số 4 và số 5 tại TP. Hồ Chí Minh. Agribank cam kết cấp tín dụng 4.867 tỷ đồng cho Công ty TNHH Dự án thành phần 2-3 Đường Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh, đầu tư đoạn cao tốc từ sông Sài Gòn đến kênh Thầy Cai.
Tại Hà Nội, Vietcombank Hà Nội hợp tác với Tổng công ty Vận tải Hà Nội đầu tư phương tiện theo kế hoạch chuyển đổi sang xe buýt điện. NCB ký hợp tác với Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội triển khai tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô, dự kiến cung cấp hạn mức tín dụng tối thiểu 6.800 tỷ đồng đến hết năm 2027.

Ngân hàng mở dòng vốn dài hạn cho các công trình trọng điểm
Cần huy động đồng bộ các nguồn lực đầu tư
Nguồn vốn huy động của NHTM chủ yếu mang tính chất ngắn hạn. Trong khi đặc thù các dự án hạ tầng thường có quy mô vốn vừa lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn rất dài. Ngân hàng vì thế phải đồng thời cân đối kỳ hạn nguồn vốn, bảo đảm thanh khoản và đánh giá khả năng thu hồi nợ. Để đảm bảo đủ nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng, theo ông Nguyễn Xuân Bắc cần huy động đồng bộ ngân sách nhà nước, vốn ngân hàng, ODA, vốn vay từ các tổ chức quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài.
Đồng quan điểm, ông Đỗ Lê Thành Đạt, Phó Giám đốc - Chuyên gia Phân tích Cấp cao tại VIS Rating nhấn mạnh, tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia hay Indonesia để xây dựng hạ tầng dựa vào hệ thống ngân hàng cần phải có kế hoạch dài hạn từ 10 đến 15 năm. Còn tại Việt Nam phải triển khai đồng thời nhiều dự án ở các lĩnh vực trong cùng một giai đoạn. Vấn đề bất cập nữa đó là sự bất cân đối cơ cấu nguồn vốn đầu tư của hệ thống tín dụng Việt Nam. Các dự án hạ tầng thường kéo dài hàng chục năm, trong khi nguồn vốn dài hạn của ngân hàng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Việc huy động vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Hơn nữa, khi việc xâydựng các công trình lớn chỉ tập trung vào một nhóm ngân hàng, nhà tài trợ và nhà thầu quen thuộc cũng có nguy cơ rủi ro cao hơn.
Do đó ông Nguyễn Anh Dũng, đại diện Bộ Xây dựng cho rằng, với dự án chiến lược, có sức lan tỏa nhưng khả năng thu hồi vốn không cao, nguồn lực nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng, có thể bổ sung bằng ODA và vốn vay ưu đãi. Những dự án có khả năng khai thác dịch vụ, vận hành và hoàn vốn tốt sẽ phù hợp hơn để thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư.
Từ phía ngân hàng, bà Nguyễn Thu Lan, Phó Chủ tịch Techcombank nhận định, không một nguồn vốn hay tổ chức nào có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu khi quy mô dự án ngày càng lớn, mà cần kết hợp các nguồn vốn, hình thức tài trợ, bên cung cấp vốn và kỳ hạn. Techcombank sẽ đảm nhiệm vai trò kết nối, thu xếp nguồn lực, đồng thời mong muốn có sự đồng hành của cơ quan Chính phủ, nhà đầu tư và tổ chức quốc tế.
Việc ngân hàng tham gia từ sớm có thể giúp dự án chuẩn bị phương án tài chính sát thực tế hơn. Tổng giám đốc BIDV Hoàng Việt Hùng cho biết, ngân hàng coi trọng tham gia ngay từ giai đoạn chuẩn bị để tư vấn cấu trúc vốn, phương án dòng tiền và công cụ tài trợ. Với dự án lớn, thời gian thu hồi vốn dài, thu xếp tài chính phải gắn với khả năng cân đối nguồn vốn, phân bổ rủi ro hợp lý và hiệu quả có thể kiểm chứng.
Cùng với nỗ lực thu xếp vốn của ngân hàng, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn cho rằng còn cần có sự phối hợp thường xuyên giữa cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, ngân hàng và doanh nghiệp. Các bộ, ngành, địa phương cần đẩy nhanh tháo gỡ thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng; đối với dự án hạ tầng quy mô lớn, phải huy động thêm nguồn vốn ngoài tín dụng ngân hàng.
Doanh nghiệp, chủ đầu tư cần hoàn thiện pháp lý, minh bạch thông tin tài chính và quản lý dòng tiền. Các hiệp hội cần tổng hợp khó khăn gắn với nhu cầu vay cụ thể, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao quản trị và hoàn thiện hồ sơ. Khi những điều kiện đó được đáp ứng, ngân hàng có thêm cơ sở thẩm định, bố trí vốn và giám sát sử dụng vốn theo tiến độ.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/von-dai-han-cho-cac-cong-trinh-trong-diem-189895.html
