Vùng cát ven biển chuyển mình nhờ nuôi tôm công nghệ cao

Những dải cát ven biển từng khắc nghiệt bởi nắng gió, từng khiến người nuôi tôm nhiều phen trắng tay vì dịch bệnh, nay đang dần đổi thay. Từ những ao nuôi lợp mái, hệ thống xử lý nước khép kín đến quy trình kiểm soát môi trường chặt chẽ, một hướng đi mới đang hình thành. Nuôi tôm công nghệ cao không còn là câu chuyện thử nghiệm mà đã trở thành lựa chọn của nhiều hộ dân, mở ra kỳ vọng phát triển kinh tế bền vững trên vùng cát Quảng Trị.

Từ vùng nuôi truyền thống đến mô hình công nghệ cao

Trong bức tranh chung của ngành thủy sản, nuôi tôm nước lợ vẫn là lĩnh vực chịu nhiều tác động nhất từ thời tiết, dịch bệnh và biến động thị trường. Năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 2.320ha nuôi tôm, trong đó tôm thẻ chân trắng chiếm phần lớn với 1.800ha, sản lượng đạt gần 7.790 tấn. Tuy nhiên, hiệu quả chưa ổn định khi nhiều diện tích bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh và chi phí đầu vào tăng cao.

Trong bối cảnh đó, nuôi tôm công nghệ cao từng bước được xem là hướng đi tất yếu. Toàn tỉnh hiện có 192,7ha nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao. Trong đó, khoảng 100ha do doanh nghiệp đầu tư, phần còn lại do người dân từng bước chuyển đổi.

Sự tham gia của các doanh nghiệp lớn đã tạo lực đẩy đáng kể. Tại xã Cam Hồng, mô hình nuôi tôm công nghệ cao của Công ty TNHH Thủy sản Công nghệ cao Việt Nam-Chi nhánh Quảng Bình được triển khai trên diện tích hơn 2,5ha với hệ thống ao nuôi có mái che, xử lý nước tuần hoàn và kiểm soát tự động các chỉ số môi trường.

Toàn cảnh hồ nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao trên cát của Công ty TNHH Thủy sản Công nghệ cao Việt Nam-Chi nhánh Quảng Bình - Ảnh: Q.N

Toàn cảnh hồ nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao trên cát của Công ty TNHH Thủy sản Công nghệ cao Việt Nam-Chi nhánh Quảng Bình - Ảnh: Q.N

Anh Phạm Tất Đạt, Quản lý kỹ thuật công ty cho biết: “Chúng tôi áp dụng quy trình nuôi khép kín, kiểm soát chặt chẽ từ con giống, nguồn nước đến thức ăn. Nhờ đó, tỉ lệ sống của tôm cao hơn, hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao năng suất”.

Không chỉ tạo ra sản phẩm ổn định, mô hình này hiện đang giải quyết việc làm cho hơn 45 lao động địa phương với mức thu nhập từ 10-20 triệu đồng mỗi tháng. Đây là con số đáng chú ý trong bối cảnh nhiều vùng ven biển còn gặp khó khăn về việc làm.

Cùng với đó, các dự án nuôi tôm công nghệ cao theo hệ thống tuần hoàn (RAS) cũng đang được triển khai, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, hướng đến quy mô lớn, hiện đại.

Người nuôi thay đổi cách làm

Sự chuyển dịch rõ nét nhất nằm ở chính nông dân, những người từng gắn bó lâu năm với cách nuôi truyền thống. Ông Ngô Minh Phiện, ở xã Sen Ngư, có 15 năm kinh nghiệm nuôi tôm, chia sẻ: Trước đây, gia đình ông nuôi theo phương thức truyền thống, ao đất không mái che, mật độ cao nhưng hiệu quả không ổn định. Khi chuyển sang mô hình công nghệ cao, ông đầu tư 4ha với 15 hồ nuôi, trong đó 2 hồ nuôi rộng 1.000m² có mái che.

“Nuôi theo công nghệ mới, mật độ hợp lý hơn, môi trường được kiểm soát nên tôm phát triển ổn định. Mỗi vụ chỉ khoảng 3 tháng vào mùa hè, 4 tháng vào mùa đông, sản lượng đạt khoảng 5 tấn/hồ. Doanh thu mỗi hồ khoảng 1,2 tỉ đồng, trừ chi phí vẫn còn lãi đáng kể”, ông Phiện cho biết.

Tổng thu nhập từ 15 hồ nuôi đạt gần 3 tỉ đồng/năm, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 20 lao động với mức thu nhập khoảng 10 triệu đồng/tháng, chưa kể thưởng sau thu hoạch. Điểm thay đổi quan trọng nằm ở tư duy sản xuất. Người nuôi không còn phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm mà chuyển sang tuân thủ quy trình kỹ thuật. Mô hình nuôi tôm hai giai đoạn, ba giai đoạn được áp dụng rộng rãi, giúp kiểm soát tốt hơn từ khâu ươm giống đến nuôi thương phẩm. Tại các vùng nuôi trước đây thuộc tỉnh Quảng Bình (cũ), nhiều mô hình đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Ao ươm nhỏ, trải bạt hoàn toàn giúp hạn chế mầm bệnh, dễ quản lý. Khi chuyển sang giai đoạn nuôi thương phẩm, môi trường được làm mới, giảm rủi ro và tiết kiệm chi phí thức ăn, điện, nhân công.

Người nuôi dần quen với việc sử dụng chế phẩm sinh học thay vì hóa chất, chủ động theo dõi các chỉ số môi trường. Đây là bước chuyển quan trọng giúp nghề nuôi tôm phát triển theo hướng an toàn và bền vững hơn. Tuy vậy, nhiều hộ nuôi cho rằng việc tiếp cận vốn còn hạn chế khi tài sản thế chấp chưa phù hợp với đặc thù sản xuất. Đây là vấn đề cần được tháo gỡ để người dân mạnh dạn đầu tư.

Hướng đến phát triển bền vững

Từ thực tiễn sản xuất, ngành nông nghiệp địa phương đã xác định nuôi tôm công nghệ cao là một trong những trụ cột phát triển kinh tế ven biển.

Ông Nguyễn Hữu Vinh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Ngành đã tổ chức quan trắc môi trường thường xuyên, kịp thời cảnh báo các yếu tố bất lợi, giúp người nuôi chủ động phòng ngừa dịch bệnh. Đồng thời, nhiều lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật được triển khai nhằm nâng cao năng lực cho người dân. Cùng với đó, tỉnh đã hỗ trợ triển khai nhiều dự án nuôi tôm công nghệ cao, từng bước hoàn thiện hạ tầng và cơ chế chính sách. Trong giai đoạn tới, các chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản sẽ tiếp tục ưu tiên ứng dụng công nghệ, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị sản phẩm.

Tỉnh đang đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản tại các vùng nuôi tập trung như các khu nuôi: Bắc Nam Sông Gianh, xã Bắc Trạch; xã Trung Hải; xã Hoàn Lão. Hiện tỉnh đang đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường bố trí kinh phí để đầu tư xây mới và nâng cấp các khu nuôi trồng thủy sản tập trung như: Trường Ninh, Đông Trạch, Hòa Trạch.

Trên những vùng cát ven biển, sự thay đổi không đến từ những công trình lớn mà bắt đầu từ từng ao nuôi, từng quyết định chuyển đổi của người dân. Khi khoa học kỹ thuật được áp dụng đúng hướng, khi doanh nghiệp và nông dân cùng đồng hành, một nền sản xuất mới đang hình thành.

Những mùa tôm ổn định hơn, những vùng nuôi sạch hơn và những người nông dân vững tin hơn, đó là tín hiệu cho thấy nuôi tôm công nghệ cao đang mở ra một chặng đường phát triển mới cho kinh tế ven biển Quảng Trị.

Q.N

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/kinh-te/202603/vung-cat-ven-bien-chuyen-minh-nho-nuoi-tom-cong-nghe-cao-1126ce3/