Xã Ea Nuôl (Đắk Lắk): Chuyển từ hỗ trợ sinh kế sang phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị
Tạo sinh kế đã khó, giúp người dân có thu nhập ổn định, thoát nghèo bền vững còn khó hơn. Tại xã Ea Nuôl (Đắk Lắk), từ các mô hình chăn nuôi bò sinh sản, nuôi nai lấy nhung, địa phương đang hướng tới liên kết người dân với hợp tác xã, doanh nghiệp, từng bước tháo gỡ điểm nghẽn đầu ra, nâng cao hiệu quả sản xuất. Phóng viên Báo Kiểm toán đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hữu Hùng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) xã Ea Nuôl - về nỗ lực tạo sinh kế lâu dài và mở hướng phát triển sản xuất cho người dân địa phương.

Ông Nguyễn Hữu Hùng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ea Nuôl - trả lời phỏng vấn Báo Kiểm toán. Ảnh: PHÚC HƯNG
PV: Thưa ông, sau khi sáp nhập ba xã Ea Bar, Cuôr Knia và Ea Nuôl, địa phương đã triển khai những mô hình sinh kế nào để hỗ trợ người nghèo, hộ cận nghèo và người dân có hoàn cảnh khó khăn phát triển kinh tế?
Ông Nguyễn Hữu Hùng: Sau khi sáp nhập, xã Ea Nuôl tiếp tục triển khai các chương trình hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và người dân có hoàn cảnh khó khăn. Năm 2025, địa phương thực hiện một số mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất, tiêu biểu là chăn nuôi nai lấy nhung và chăn nuôi bò sinh sản.
Tổng nguồn vốn thực hiện các mô hình khoảng 3,6 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 2,8 tỷ đồng, phần còn lại do người dân đối ứng. Theo quy định, người tham gia mô hình không chỉ được hỗ trợ con giống mà còn phải chủ động nguồn lực để đầu tư chuồng trại, chuẩn bị thức ăn và tổ chức chăn nuôi.
Chúng tôi xác định hỗ trợ sinh kế phải gắn với trách nhiệm của người thụ hưởng. Người dân cần chủ động tham gia, tuân thủ hướng dẫn kỹ thuật và duy trì mô hình theo quy định. Có như vậy, nguồn lực hỗ trợ mới phát huy hiệu quả, tạo điều kiện để các hộ từng bước nâng cao thu nhập thay vì chỉ nhận hỗ trợ trong ngắn hạn.

Mặt trận Tổ quốc xã Ea Nuôl và các nhà tài trợ trao tặng Nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo trên địa bàn (tháng 8/2026). Ảnh: THÚY THANH
PV: Để nguồn vốn hỗ trợ phát huy hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí và bảo đảm đến đúng đối tượng, xã thực hiện công tác quản lý, giám sát như thế nào và vai trò của tín dụng chính sách trong phát triển sinh kế được thể hiện ra sao, thưa ông?
Ông Nguyễn Hữu Hùng: Đối với nguồn vốn thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia hỗ trợ phát triển sản xuất trong năm 2025 và 2026, sau khi được UBND tỉnh phân bổ, UBND xã xây dựng kế hoạch, giao các đơn vị chuyên môn làm chủ đầu tư và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện theo đúng quy định.
Cùng với đó, xã hướng dẫn các thôn, buôn rà soát, lựa chọn đúng đối tượng thụ hưởng. Việc kiểm tra, giám sát được thực hiện trong quá trình triển khai, từ điều kiện tham gia của các hộ đến việc duy trì mô hình sau hỗ trợ.
Đối với mô hình nuôi bò sinh sản hoặc nuôi nai, các hộ phải bảo đảm điều kiện chuồng trại, có khả năng chăm sóc và tiếp thu kỹ thuật chăn nuôi. Người dân cũng phải thực hiện đúng các cam kết về duy trì mô hình, tránh tình trạng nhận hỗ trợ rồi bán vật nuôi, làm ảnh hưởng đến mục tiêu tạo sinh kế.
Để bảo đảm công khai, minh bạch, xã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức trong hệ thống chính trị và cộng đồng dân cư thực hiện giám sát. Qua đó, nâng cao trách nhiệm của cơ quan thực hiện và người thụ hưởng trong quản lý, sử dụng nguồn lực.
Bên cạnh các chương trình hỗ trợ trực tiếp, tín dụng chính sách cũng là nguồn lực quan trọng giúp người dân đầu tư phát triển kinh tế. Theo số liệu địa phương cung cấp, tổng dư nợ tín dụng chính sách trên địa bàn hiện đạt khoảng 273 tỷ đồng. Xã định hướng lồng ghép nguồn vốn này với các chương trình hỗ trợ sinh kế, tạo điều kiện để người dân phát triển sản xuất và cải thiện thu nhập.

Hội Cựu chiến binh xã Ea Nuôl trích Quỹ tình đồng đội năm 2026 tặng bò cho ông Hoàng Văn Đệ thôn 6 - là hộ nghèo trên địa bàn. Ảnh: THÚY THANH
PV: Trong các mô hình đang triển khai, nuôi nai lấy nhung là hướng đi mới. Xin ông cho biết, vì sao xã Ea Nuôl lựa chọn mô hình này và kỳ vọng như thế nào về hiệu quả kinh tế đối với người dân?
Ông Nguyễn Hữu Hùng: Trước đây, địa phương đã triển khai nhiều mô hình hỗ trợ con giống như nuôi gà, nuôi dê và nuôi bò. Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy chăn nuôi bò có những kết quả tích cực, góp phần cải thiện kinh tế hộ gia đình. Trên cơ sở đó, xã tiếp tục khảo sát, tìm kiếm những mô hình có tiềm năng để nâng cao giá trị sản xuất.
Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy tại xã Cư Êbur trước đây, nay thuộc phường Buôn Ma Thuột, một số hộ đã phát triển mô hình nuôi nai lấy nhung, sản phẩm có giá trị kinh tế và có đầu ra tương đối thuận lợi. Từ thực tế đó, xã nghiên cứu, vận dụng mô hình phù hợp với điều kiện địa phương và triển khai hỗ trợ người dân.
Đây vẫn là mô hình mới, cần thêm thời gian để đánh giá đầy đủ hiệu quả. Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng nuôi nai sẽ mở ra hướng phát triển sinh kế phù hợp với một bộ phận người dân, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn.
Điều quan trọng là lựa chọn mô hình phải xuất phát từ điều kiện thực tế, khả năng chăm sóc của người dân và nhu cầu thị trường. Nếu chỉ hỗ trợ con giống mà không có hướng dẫn kỹ thuật, không đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm thì rất khó bảo đảm hiệu quả lâu dài.

Các thủ tục hành chính tại xã Ea Nuôl được niêm yết công khai để người dân dễ tìm hiểu và áp dụng. Ảnh: PHÚC HƯNG
PV: Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất khiến người dân còn khó thoát nghèo bền vững và xã Ea Nuôl sẽ giải quyết những hạn chế này như thế nào trong giai đoạn 2026-2030?
Ông Nguyễn Hữu Hùng: Theo định hướng trong nghị quyết của Đảng bộ xã, giai đoạn đến năm 2030, xã Ea Nuôl phấn đấu giảm tỷ lệ nghèo từ 3-5%, đồng thời hướng tới mục tiêu không còn là xã đặc biệt khó khăn, xã vùng III.
Đây là mục tiêu có ý nghĩa lớn nhưng cũng không ít thách thức. Ea Nuôl có khoảng 43.000 dân, số hộ nghèo còn nhiều, trong khi hoạt động sản xuất của người dân chủ yếu dựa vào quy mô hộ gia đình, nhỏ lẻ và thiếu liên kết. Việc ứng dụng khoa học - kỹ thuật còn hạn chế; đầu ra nông sản chưa ổn định. Nhiều hộ chỉ tìm người mua khi đến mùa thu hoạch nên thường ở thế bị động trong thương lượng giá cả.
Vì vậy, muốn giảm nghèo bền vững, trước hết phải đổi mới cách tổ chức sản xuất. Các mô hình hỗ trợ cần được khảo sát kỹ, lựa chọn dựa trên điều kiện tự nhiên, lợi thế địa phương, năng lực của người dân và nhu cầu thị trường. Nếu hỗ trợ dàn trải, manh mún, không gắn với đầu ra thì hiệu quả sẽ hạn chế.
Xã định hướng phát triển các mô hình sản xuất hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị, gắn kết hộ dân với hợp tác xã và doanh nghiệp. Người dân không thể chỉ sản xuất rồi tự tìm đầu ra, mà cần từng bước tham gia vào chuỗi từ cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất đến sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Cùng với đó, cần có cơ chế kết nối doanh nghiệp với người dân và hợp tác xã, ưu tiên những doanh nghiệp có đủ năng lực và cam kết hợp tác lâu dài. Trước đây, một số doanh nghiệp từng đến địa phương thu mua ngô sinh khối, nhưng do hợp đồng chưa chặt chẽ nên sau đó ngừng thực hiện, khiến người dân gặp khó khăn. Bài học này cho thấy liên kết sản xuất phải dựa trên trách nhiệm và lợi ích rõ ràng của các bên.
PV: Thực tế cho thấy, địa phương đã có một số sản phẩm và mô hình khởi nghiệp. Làm thế nào để phát huy lợi thế này, tạo thêm giá trị cho nông sản và mở rộng cơ hội sinh kế cho người dân, thưa ông?
Ông Nguyễn Hữu Hùng: Trên địa bàn đã có một số mô hình, sản phẩm như ốc nhồi, tiêu xanh, tiêu ép và bánh tráng củ dền. Hợp tác xã Phú Nông cũng phát triển một số sản phẩm từ hồ tiêu và sản phẩm sấy. Tuy nhiên, quy mô sản xuất còn hạn chế, sản lượng chưa đủ lớn, khả năng liên kết tiêu thụ chưa cao nên đầu ra vẫn là khó khăn đáng kể.
Trong thời gian tới, xã định hướng tăng cường hỗ trợ phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác; nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất và xây dựng thương hiệu. Đồng thời, cần ưu tiên nguồn lực cho máy móc, thiết bị phục vụ sơ chế, chế biến, giúp nâng cao giá trị sản phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Công tác đào tạo nghề cũng cần đổi mới theo hướng gắn với nhu cầu thực tế, không chỉ dừng ở những nghề phổ biến mà phải giúp người dân nâng cao kỹ năng sản xuất, chế biến và tổ chức kinh doanh. Song song với đó là lựa chọn sản phẩm đặc trưng có lợi thế để tập trung phát triển, tránh đầu tư phân tán.
Để thực hiện được các mục tiêu này, ngoài nỗ lực của chính quyền và người dân, địa phương cần sự quan tâm, hỗ trợ của tỉnh và các cấp có thẩm quyền về nguồn lực, hạ tầng phục vụ sản xuất và cơ chế liên kết. Chúng tôi kỳ vọng việc tổ chức sản xuất bài bản hơn, tăng cường liên kết với doanh nghiệp và hợp tác xã sẽ giúp người dân nâng cao thu nhập, từng bước thoát nghèo và hạn chế tái nghèo.
Giảm nghèo bền vững không thể chỉ dựa vào nguồn hỗ trợ trước mắt. Quan trọng hơn là giúp người dân có sinh kế phù hợp, sản xuất ra sản phẩm có thị trường tiêu thụ và chủ động tham gia vào quá trình phát triển kinh tế. Đây là hướng đi mà xã Ea Nuôl tập trung thực hiện trong giai đoạn tới.

