Xác định rõ giới hạn điều chỉnh chỉ tiêu; bảo đảm chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm
Thảo luận tại hội trường, các đại biểu tán thành cao sự cần thiết ban hành Nghị quyết, song cho rằng, cần xác định rõ nguyên tắc và giới hạn điều chỉnh các chỉ tiêu; bảo đảm chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Chiều 11/8, Quốc hội thảo luận ở Hội trường về dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và thi hành án.
Đề xuất bổ sung nguyên tắc, giới hạn của điều chỉnh chỉ tiêu tư pháp
Theo các đại biểu, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội đã đặt ra các chỉ tiêu trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và thi hành án là cần thiết, phù hợp với chủ trương hiện nay với tinh thần 6 rõ “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền”.
Đề cập đến thẩm quyền điều chỉnh các chỉ tiêu, nhiệm vụ (Điều 8), đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng bày tỏ đồng tình với việc cho phép điều chỉnh một số chỉ tiêu khi thực sự cần thiết là hợp lý, linh hoạt.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng phát biểu tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)
Tuy nhiên, dự thảo Nghị quyết quy định trong thời gian Quốc hội không họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được điều chỉnh các chỉ tiêu, nhiệm vụ và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Đại biểu cho rằng có thể không quy định trước được mức điều chỉnh, nhưng cần xác định được nguyên tắc và giới hạn của điều chỉnh. Bởi các chỉ tiêu trong Nghị quyết không hoàn toàn có cùng tính chất. Có những chỉ tiêu định lượng phụ thuộc nhiều vào diễn biến tội phạm, khối lượng công việc và điều kiện thực tế, nên cần có dư địa điều chỉnh; song cũng có những yêu cầu thể hiện trực tiếp chuẩn mực pháp quyền, chất lượng hoạt động tư pháp và bảo vệ quyền con người.
Từ phân tích trên, nữ đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc và giới hạn việc điều chỉnh, theo hướng việc điều chỉnh không được làm giảm các yêu cầu, chuẩn mực về bảo đảm tính đúng pháp luật của hoạt động tố tụng, chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; đồng thời phải có căn cứ, lý do rõ ràng và được báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Quốc hội thảo luận ở Hội trường. (Ảnh: DUY LINH)
Về thi hành án hành chính (Điều 5), đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị quan tâm hơn đến khoảng cách giữa quy định về trách nhiệm và việc thực thi trách nhiệm trên thực tế.
Dẫn kết quả tổng kết thực hiện Nghị quyết số 96, tỷ lệ thi hành án hành chính trong 6 năm từ 2020 đến 2025 lần lượt là 43,73%; 48,19%; 43,24%; 42,32%; 45,41% và 41,37%, đại biểu nhận định, tỷ lệ này không những còn thấp mà chưa cho thấy xu hướng cải thiện rõ rệt. Đáng lưu ý hơn, Nghị quyết số 96 đã yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp không chấp hành án hành chính, nhưng kết quả tổng kết cả 6 năm đều ghi nhận chưa xử lý trường hợp nào mặc dù đã có nhiều kiến nghị.
“Kết quả 6 năm vừa qua lại đặt ra một câu hỏi khác: Nếu pháp luật đã quy định, Nghị quyết số 96 cũng đã yêu cầu, nhiều kiến nghị xử lý đã được ban hành mà vẫn chưa xử lý trường hợp nào, thì điểm nghẽn thực sự nằm ở đâu?”, đại biểu đặt vấn đề.
Theo đại biểu, đây không còn chủ yếu là vấn đề thiếu quy định, mà là vấn đề thực thi trách nhiệm. Khi một bản án đã có hiệu lực pháp luật mà bên phải thi hành là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước lại chậm hoặc không chấp hành, thì không chỉ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân chưa được bảo đảm, mà hiệu lực của phán quyết tư pháp và tính gương mẫu tuân thủ pháp luật của cơ quan công quyền cũng bị ảnh hưởng.
Vì vậy, đại biểu đề nghị trong cơ chế báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết cần làm rõ số bản án hành chính chậm, chưa được thi hành; nguyên nhân; số trường hợp có dấu hiệu phải xem xét trách nhiệm; số trường hợp đã xem xét và kết quả xử lý.
Phân biệt rõ tỷ lệ thu hồi tài sản thực tế với tỷ lệ bảo đảm thu hồi trong giai đoạn điều tra
Nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng và ban hành Nghị quyết nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, phù hợp với những thay đổi của pháp luật về tổ chức bộ máy và thực tiễn công tác tư pháp, đại biểu Nguyễn Xuân Kỳ (Đoàn thành phố Hà Nội) cho biết, qua thực tiễn thi hành, yêu cầu công việc ngày càng tăng, tính chất các vụ án, vụ việc ngày càng phức tạp. Vì vậy, những quy định mới trong dự thảo Nghị quyết không chỉ là chỉ tiêu nghiệp vụ mà còn là căn cứ đánh giá kết quả, trách nhiệm của từng cơ quan.

Đại biểu Nguyễn Xuân Kỳ (Đoàn thành phố Hà Nội) phát biểu tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)
Về tỷ lệ giải quyết, xét xử các vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính quy định (điểm a, khoản 1, Điều 4), đại biểu Nguyễn Xuân Kỳ đề nghị cân nhắc việc quy định chỉ tiêu mang tính định lượng. Theo đại biểu, cần đánh giá hoạt động của tòa án trên cơ sở chất lượng xét xử và việc tuân thủ thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật.
Góp ý về chỉ tiêu kéo giảm số vụ phạm tội về trật tự xã hội, đại biểu Đặng Bích Ngọc (Đoàn Phú Thọ) cho biết, Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung Đảng khóa XIV về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển quy định có nêu chỉ tiêu cụ thể: “Kéo giảm bền vững tội phạm; phấn đấu hằng năm giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội”. Do đó, đại biểu Đặng Bích Ngọc đề nghị Nghị quyết của Quốc hội thể chế hóa theo quan điểm của Đảng tại Nghị quyết trên, điều chỉnh điểm a khoản 1 Điều 2 dự thảo Nghị quyết như sau: “Tăng cường các biện pháp phòng ngừa để kéo giảm các loại tội phạm, trong đó, số vụ phạm tội về trật tự xã hội phấn đấu giảm 10% so với năm trước”.

Đại biểu Đặng Bích Ngọc (Đoàn Phú Thọ) phát biểu tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)
Liên quan chỉ tiêu thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế đại biểu cho rằng, trong giai đoạn điều tra, kết quả cần được đánh giá trên cơ sở tiền, tài sản đã được phát hiện, xác minh, truy tìm, tạm giữ, tạm phong tỏa, kê biên. Việc tịch thu, trả lại, xử lý tài sản còn phụ thuộc vào kết quả truy tố, xét xử và thi hành án; tức là cần phân biệt rõ tỷ lệ thu hồi tài sản thực tế với tỷ lệ bảo đảm thu hồi trong giai đoạn điều tra.
Từ đó, đại biểu đề nghị điều chỉnh theo hướng: Cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án phối hợp chặt chẽ trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý, áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo đảm thu hồi tiền, tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đạt hơn 60%; trong đó tại giai đoạn điều tra, tỷ lệ bảo đảm thu hồi tiền, tài sản đạt từ 65% trở lên trên tỷ lệ 60% nêu trên.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu. (Ảnh: DUY LINH)
Báo cáo trước Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu nhận định, các chỉ tiêu, nhiệm vụ phải đóng vai trò như một bộ chỉ số đánh giá hiệu quả công việc, là kênh để Quốc hội giám sát, đánh giá chính xác chất lượng của các cơ quan.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp khẳng định, Ban soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng, đầy đủ các ý kiến đại biểu Quốc hội để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội phương án tiếp thu chỉnh lý trong dự thảo Nghị quyết.











