Xăng E10 - Bước đệm chiến lược cho tương lai năng lượng xanh Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn nhận định, triển khai đồng thời xăng E5, E10 giúp mở rộng thị trường nhiên liệu sinh học, thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh, an ninh năng lượng.

Phát triển nhiên liệu sinh học đang trở thành một trong những giải pháp quan trọng giúp Việt Nam thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Từ ngày 1/6/2026, xăng sinh học E10 được triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước theo Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương, đánh dấu bước tiến mới trong lộ trình chuyển dịch năng lượng xanh, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Xung quanh câu chuyện phát triển xăng E5, E10 và tương lai ngành nhiên liệu sinh học Việt Nam, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh (HUIT).

PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Thanh Minh.

PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Thanh Minh.

Xây dựng hệ sinh thái nhiên liệu sinh học hoàn chỉnh

- Thưa PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn, việc triển khai đồng thời xăng sinh học E5 và E10 được xem là bước chuyển quan trọng trong lộ trình phát triển năng lượng xanh của Việt Nam đến năm 2030. Theo ông, đâu là những điều kiện cốt lõi để Việt Nam không chỉ mở rộng tiêu thụ E10 mà còn hình thành một hệ sinh thái nhiên liệu sinh học bền vững, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch?

PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn: Việc triển khai đồng thời xăng sinh học E5 và E10 không chỉ là giải pháp thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch mà còn là bước đi quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng xanh của Việt Nam. Để xăng E10 phát triển bền vững và trở thành một cấu phần quan trọng trong cơ cấu năng lượng quốc gia, theo tôi cần hội tụ bốn điều kiện cốt lõi.

Trước hết là bảo đảm nguồn nguyên liệu ethanol ổn định và bền vững. Việt Nam cần quy hoạch tổng thể và phát triển các vùng nguyên liệu phù hợp từ sắn, mía và các cây trồng năng lượng. Đồng thời, cần đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất ethanol thế hệ mới từ phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, bã mía và các loại chất thải hữu cơ. Đây là hướng đi giúp giảm áp lực lên đất sản xuất lương thực, gia tăng giá trị cho ngành nông nghiệp và phù hợp với mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Phát triển xăng sinh học E5, E10 góp phần hình thành hệ sinh thái nhiên liệu sinh học bền vững tại Việt Nam. Ảnh minh họa.

Phát triển xăng sinh học E5, E10 góp phần hình thành hệ sinh thái nhiên liệu sinh học bền vững tại Việt Nam. Ảnh minh họa.

Thứ hai là nâng cao năng lực công nghệ và sản xuất. Các nhà máy ethanol cần được đầu tư theo hướng hiện đại, tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu suất chuyển hóa sinh khối và giảm chi phí sản xuất. Về lâu dài, Việt Nam cần từng bước làm chủ công nghệ nhiên liệu sinh học thế hệ thứ hai nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu.

Thứ ba là hoàn thiện hạ tầng phân phối và logistics. Hệ thống kho chứa, pha chế, vận chuyển và phân phối nhiên liệu sinh học cần được đầu tư đồng bộ, bảo đảm chất lượng sản phẩm trên toàn chuỗi cung ứng. Đây là yếu tố quyết định để mở rộng thị trường và duy trì niềm tin của người tiêu dùng đối với xăng E5 và E10, đồng thời tạo nền tảng cho các mức pha trộn cao hơn trong tương lai như E20.

Cuối cùng là xây dựng cơ chế chính sách ổn định và dài hạn. Thực tế từ nhiều quốc gia cho thấy nhiên liệu sinh học chỉ phát triển thành công khi có hệ thống chính sách khuyến khích nhất quán về thuế, tín dụng xanh, hỗ trợ nghiên cứu phát triển và tiêu chuẩn kỹ thuật. Bên cạnh đó, cần lồng ghép nhiên liệu sinh học với chiến lược giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế cũng như hiệu quả môi trường.

Có thể khẳng định rằng, xăng E10 chỉ thực sự phát huy vai trò khi được phát triển trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh, kết nối giữa nông nghiệp, công nghiệp chế biến, năng lượng, môi trường và hệ thống tiêu thụ. Nếu giải quyết tốt các yếu tố về nguyên liệu, công nghệ, hạ tầng và thể chế, Việt Nam không chỉ giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch mà còn có thể hình thành một ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học hiện đại, đóng góp tích cực vào bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu phát triển xanh, phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Xăng E5, E10 là giải pháp chuyển tiếp chiến lược đến năm 2030

- Trong bối cảnh Việt Nam đã cam kết mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, ông đánh giá như thế nào về vai trò của E5, E10 trong cơ cấu năng lượng giao thông giai đoạn 2026 - 2030? Liệu nhiên liệu sinh học có thể trở thành giải pháp chuyển tiếp chiến lược trước khi các phương tiện điện và nhiên liệu xanh thế hệ mới phát triển phổ biến hay không?

PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn: Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xăng sinh học E5 và E10 đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn 2026 - 2030 như một giải pháp giảm phát thải khả thi, chi phí thấp và có thể triển khai ngay trên quy mô lớn.

Xăng E5, E10 là bước đệm chiến lược thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh và giảm phát thải (ảnh minh họa).

Xăng E5, E10 là bước đệm chiến lược thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh và giảm phát thải (ảnh minh họa).

Khác với xe điện hay hydro xanh vốn cần thêm thời gian để hoàn thiện công nghệ, hạ tầng và thị trường, nhiên liệu sinh học có lợi thế tận dụng được hệ thống phương tiện, kho bãi và mạng lưới phân phối hiện hữu. Điều này giúp giảm phát thải khí nhà kính và từng bước thay thế nhiên liệu hóa thạch mà không tạo ra những xáo trộn lớn đối với nền kinh tế.

Từ góc độ khoa học và thực tiễn, tôi cho rằng xăng E5 và E10 không phải là đích đến cuối cùng của quá trình chuyển đổi năng lượng, nhưng là giải pháp chuyển tiếp chiến lược trong giai đoạn hiện nay. Việc pha trộn ethanol sinh học vào xăng truyền thống không chỉ góp phần giảm phát thải CO₂ mà còn thúc đẩy sự phát triển của chuỗi giá trị nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng trong nước, qua đó nâng cao an ninh năng lượng và giảm phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu.

Kinh nghiệm từ các quốc gia như Brazil, Hoa Kỳ hay Thái Lan cho thấy nhiên liệu sinh học thường đóng vai trò cầu nối trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế dựa trên nhiên liệu hóa thạch sang các công nghệ giao thông phát thải thấp. Đối với Việt Nam, trong ít nhất một thập kỷ tới, xe điện và các loại nhiên liệu xanh thế hệ mới khó có thể thay thế hoàn toàn hàng chục triệu phương tiện sử dụng động cơ đốt trong đang lưu hành.

Chính vì vậy, xăng E5 và E10 là giải pháp thực tế nhất để tạo ra mức giảm phát thải ngay từ hiện tại.

Tuy nhiên, để nhiên liệu sinh học phát huy hiệu quả lâu dài, Việt Nam cần tiếp tục đầu tư vào công nghệ sản xuất ethanol thế hệ mới từ phụ phẩm nông nghiệp, hoàn thiện hạ tầng phân phối và xây dựng cơ chế chính sách ổn định. Nếu được phát triển đúng hướng, xăng E5 và E10 và xa hơn là E20, sẽ là bước đệm quan trọng giúp ngành giao thông giảm phát thải, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi sang xe điện, hydro xanh và các dạng nhiên liệu bền vững hơn trong tương lai. Đây là cách tiếp cận phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam và xu hướng chuyển dịch năng lượng toàn cầu, đồng thời bảo đảm quá trình chuyển đổi năng lượng diễn ra từng bước, hiệu quả và ít tốn kém hơn.

Sau năm 2030, nhiên liệu sinh học sẽ bước sang giai đoạn công nghệ cao

- Từ góc độ nghiên cứu và đào tạo của Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh, ông dự báo xu hướng phát triển của ngành nhiên liệu sinh học Việt Nam sau năm 2030 sẽ như thế nào? Việt Nam cần đầu tư ra sao cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ và nguồn nhân lực để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng sạch toàn cầu?

PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn: Từ góc độ nghiên cứu, thực tiễn và quá trình đào tạo tại Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh, tôi cho rằng sau năm 2030, ngành nhiên liệu sinh học Việt Nam sẽ chuyển từ giai đoạn phát triển chủ yếu dựa trên ethanol thế hệ thứ nhất được sản xuất từ sắn, mía, ngô sang các công nghệ nhiên liệu sinh học thế hệ mới có giá trị gia tăng và hiệu quả môi trường cao hơn.

Sau năm 2030, nhiên liệu sinh học Việt Nam hướng tới công nghệ cao và chuỗi giá trị năng lượng sạch. Ảnh minh họa.

Sau năm 2030, nhiên liệu sinh học Việt Nam hướng tới công nghệ cao và chuỗi giá trị năng lượng sạch. Ảnh minh họa.

Xu hướng này phù hợp với quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu, trong đó nhiên liệu sinh học không chỉ phục vụ giao thông đường bộ mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khó hơn như điện hóa hàng không, vận tải biển và công nghiệp nặng.

Lợi thế lớn của Việt Nam là sở hữu nguồn sinh khối rất dồi dào từ nông nghiệp. Mỗi năm, nước ta tạo ra hàng chục triệu tấn phụ phẩm như rơm rạ, trấu, bã mía, vỏ cà phê và các loại chất thải hữu cơ khác. Đây sẽ là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển ethanol thế hệ thứ hai, nhiên liệu sinh học tiên tiến và nhiều sản phẩm năng lượng sinh học có hàm lượng công nghệ cao.

Trong tương lai, giá trị của ngành nhiên liệu sinh học sẽ không chỉ nằm ở sản lượng nhiên liệu tạo ra mà còn ở khả năng giảm phát thải carbon, tham gia thị trường tín chỉ carbon và đóng góp vào nền kinh tế tuần hoàn. Đây chính là xu hướng mà nhiều quốc gia đang theo đuổi trong chiến lược tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Để hiện thực hóa tiềm năng này, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ theo hướng làm chủ các công nghệ chuyển hóa sinh khối, công nghệ enzyme, công nghệ sinh học công nghiệp, vật liệu xúc tác và các quy trình sản xuất nhiên liệu sinh học tiên tiến. Đây là những nền tảng quyết định khả năng cạnh tranh của ngành trong tương lai.

Các trường đại học và viện nghiên cứu cần đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thông qua việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và các chương trình hợp tác với doanh nghiệp nhằm rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa, đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất.

Về nguồn nhân lực, cần xây dựng các chương trình đào tạo liên ngành kết hợp giữa hóa học, công nghệ sinh học, kỹ thuật năng lượng, môi trường, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi xanh. Trong tương lai, nhu cầu nhân lực sẽ không chỉ dừng lại ở đội ngũ kỹ sư vận hành nhà máy nhiên liệu sinh học mà còn cần các chuyên gia về công nghệ xanh, quản lý carbon, đánh giá vòng đời sản phẩm và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng.

- Xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn!

Tôi cho rằng, nếu chúng ta đầu tư đúng hướng cho khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Việt Nam không chỉ đáp ứng nhu cầu nhiên liệu sinh học trong nước mà còn có cơ hội trở thành trung tâm sản xuất và cung ứng nhiên liệu sinh học tiên tiến của khu vực. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng sạch toàn cầu, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Thanh Minh (thực hiện)

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/xang-e10-buoc-dem-chien-luoc-cho-tuong-lai-nang-luong-xanh-viet-nam-460140.html