Xây dựng Viện Nghiên cứu Cơ khí thành tổ chức nghiên cứu, triển khai công nghệ hàng đầu

Theo Quyết định số 3502/QĐ-BCT của Bộ Công Thương, xây dựng Viện Nghiên cứu Cơ khí thành tổ chức nghiên cứu, triển khai công nghệ hàng đầu Việt Nam, có uy tín khu vực và quốc tế.

Tạo dựng thương hiệu

Những năm qua, Viện Nghiên cứu Cơ khí (Bộ Công Thương) đã tập trung đẩy mạnh công tác nghiên cứu thiết kế, chế tạo thiết bị trong lĩnh vực cơ khí; đẩy mạnh hoạt động tư vấn, thiết kế, tiếp nhận chuyển giao công nghệ và các dây chuyền thiết bị thuộc lĩnh vực công nghiệp như: Xi măng, thủy điện, nhiệt điện, khai thác và chế biến khoáng sản, tự động hóa, năng lượng mới và năng lượng tái tạo…

Đồng thời, với đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học giỏi, nhiều kinh nghiệm, Viện đã làm tốt công tác tham mưu, tư vấn về cơ chế, chính sách cho Chính phủ về chủ trương nội địa hóa lĩnh vực cơ khí chế tạo.

Trong quá trình hoạt động, Viện xác định, tính trách nhiệm là yếu tố quan trọng hàng đầu. Tính trách nhiệm cũng là nền tảng tạo nên uy tín của Viện với các bạn hàng trong và ngoài nước. Với phương châm hành động này, Viện đã đạt được nhiều thành công trong những lĩnh vực công nghiệp chủ chốt.

Cụ thể, về thủy điện, Viện đã làm chủ được công tác thiết kế, chế tạo nhiều thiết bị cơ khí quan trọng. Đặc biệt, với sự đóng góp của Viện, Nhà máy Thủy điện Sơn La đã phát điện sớm 3 năm và Nhà máy Thủy điện Lai Châu phát điện sớm 1 năm so với dự kiến. Sự thành công của 2 dự án đã tạo thêm nhiều việc làm cho ngành cơ khí trong nước với doanh thu khoảng 8.000 tỷ đồng.

Cùng với đó, về nhiệt điện, Viện cũng đã làm chủ công tác thiết kế, chế tạo nhiều hạng mục thiết bị mà trước đây là đặc quyền của các nhà thầu nước ngoài như: Thiết bị lọc bụi tĩnh điện, hệ thống thải tro xỉ, hệ thống vận chuyển than… cho các nhà máy nhiệt điện: Vũng Áng 1, Thái Bình 1, Sông Hậu 1, Nghi Sơn 2, Vũng Áng 2… Trong đó, nhiều dự án, Viện là nhà thầu phụ cho tổng thầu nước ngoài như các tập đoàn: Marubeni (Nhật Bản), Doosan và Hyundai (Hàn Quốc)...

Về bô xít, Viện Nghiên cứu Cơ khí đã đấu thầu và được Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chọn làm tư vấn cho chủ đầu tư trong việc xây dựng dự án: Nhà máy Alumin Tân Rai và Nhân Cơ. Thực hiện dự án nêu trên, Viện đã thuê trên 10 chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này làm việc tại Việt Nam gần 10 năm. Đến nay, Viện đã làm chủ công nghệ thiết kế nhà máy, có thể đảm đương việc mở rộng cũng như xây dựng các nhà máy bô xít mới.

Về công nghệ tự động hóa, Viện đã nghiên cứu thiết kế, tích hợp nhiều hệ thống tự động hóa phức tạp cho các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, ô tô, xe máy, kho hàng với giá cạnh tranh tốt so với các nhà thầu nước ngoài, giúp chủ đầu tư giảm đáng kể chi phí cũng như sự phụ thuộc vào công ty nước ngoài.

Ngoài ra, về nội địa hóa thiết bị cho nhà máy điện hạt nhân và ngành công nghiệp đường sắt, Viện Nghiên cứu Cơ khí đã sớm tập trung nghiên cứu, chuẩn bị nguồn nhân lực để sẵn sàng tham gia dự án nhà máy điện hạt nhân cũng như lĩnh vực công nghiệp đường sắt tại Việt Nam. Từ năm 2006 đến nay, Viện đã cử gần 100 lượt kỹ sư có kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ giỏi, giàu kinh nghiệm tham gia nghiên cứu học tập ở nước ngoài. Đồng thời, phối hợp với các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc tại Việt Nam triển khai nghiên cứu lĩnh vực điện hạt nhân, xe ô tô chạy điện, giao thông xanh…

Đòn bẩy chính sách

Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3502/QĐ-BCT về việc phê duyệt Chiến lược phát triển của Viện Nghiên cứu Cơ khí đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Quyết định này đặt ra mục tiêu xây dựng Viện Nghiên cứu Cơ khí thành tổ chức nghiên cứu, triển khai công nghệ hàng đầu Việt Nam, có uy tín khu vực và quốc tế trong lĩnh vực cơ khí - tự động hóa.

Viện Nghiên cứu Cơ khí đã làm chủ công tác thiết kế, chế tạo nhiều hạng mục thiết bị quan trọng, phức tạp trong các nhà máy nhiệt điện. Ảnh: Q.N

Viện Nghiên cứu Cơ khí đã làm chủ công tác thiết kế, chế tạo nhiều hạng mục thiết bị quan trọng, phức tạp trong các nhà máy nhiệt điện. Ảnh: Q.N

Tại Quyết định, đã đưa ra nhiều nhóm giải pháp. Trong đó, về giải pháp về khoa học và công nghệ, tập trung nghiên cứu làm chủ các công nghệ nguồn/công nghệ lõi, tăng cường nghiên cứu ứng dụng, phát triển sản phẩm truyền thống và sản phẩm mới. Tham gia các dự án trọng điểm quốc gia như điện hạt nhân, đường sắt (tốc độ cao, liên vùng và đường sắt đô thị), năng lượng tái tạo, điện khí, khai thác và chế biến khoáng sản, thủy điện tích năng, để tiếp cận và làm chủ công nghệ trong thực tiễn.

Phát triển công nghệ nguồn/công nghệ lõi trong nước qua các chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước, cấp Bộ, các quỹ đổi mới sáng tạo, chương trình quốc gia về sản phẩm cơ khí trọng điểm. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải sát với yêu cầu thực tiễn của sản xuất, của thị trường, có khả năng chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất cao.

Xây dựng các trung tâm nghiên cứu phát triển chuyên ngành trong các lĩnh vực nhiệt điện khí, năng lượng tái tạo, đường sắt, khai thác và chế biến khoáng sản, tự động hóa và robot công nghiệp, đất hiếm nhằm nghiên cứu tiến tới làm chủ các công nghệ nguồn trong các lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, tăng cường năng lực mô phỏng, thử nghiệm như đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm mô phỏng số, trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các trung tâm thử nghiệm chuyên ngành theo tiêu chuẩn quốc tế.

Trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi, xây dựng chuỗi cung ứng trong nước cho phần móng, tháp turbine, cánh quạt cỡ vừa; từng bước nội địa hóa, trước tiên tập trung vào gia công chế tạo kết cấu thép và lắp ráp. Trong lĩnh vực nhà máy điện khí, đầu tư trung tâm mô phỏng vận hành turbine khí, phục vụ đào tạo kỹ sư; từng bước chế tạo module phụ trợ (hệ thống ống dẫn, bộ lọc, thiết bị điện, điều khiển) tiến tới làm chủ công nghệ nhà máy.

Trong lĩnh vực công nghiệp đường sắt, tham gia vào các dự án đường sắt cao tốc hoặc đô thị theo mô hình chìa khóa trao tay có nội địa hóa. Lĩnh vực khai khoáng và sản xuất vật liệu, tập trung nghiên cứu và làm chủ công nghệ dây chuyền, thiết bị cho khai thác và chế biến sâu khoáng sản (bô xít, đất hiếm), dây chuyền thiết bị cho nhà máy xi măng, nhà máy thép, bao gồm các hệ thống phát điện tận dụng nhiệt dư.

Trong lĩnh vực nhà máy điện hạt nhân, hợp tác - chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn quốc tế có năng lực và kinh nghiệm để tiếp cận và làm chủ các công nghệ nguồn/công nghệ lõi trong lĩnh vực này…

Về giải pháp cơ chế, chính sách và tài chính, Quyết định số 3502/QĐ-BCT nhấn mạnh đến cơ chế đặc thù. Theo đó, Viện Nghiên cứu Cơ khí được giữ lại 100% kinh phí nghiên cứu từ các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ để tái đầu tư cho nghiên cứu phát triển.

Đồng thời, thành lập Quỹ phát triển công nghệ của Viện để đầu tư cho các đề tài, dự án dài hạn, có tính đột phá. Đẩy mạnh cơ chế tự chủ theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP, kết hợp với việc đặt hàng nghiên cứu từ Bộ Công Thương và từ các Tập đoàn, Tổng công ty lớn trong nước như Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Vinfast, Vinspeed, Thaco… Huy động vốn xã hội hóa như liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp, tham gia đầu tư đối tác công tư trong nghiên cứu, chế tạo sản phẩm.

Về giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị: Cải tạo, nâng cấp các cơ sở hạ tầng hiện có, các phòng thiết kế chuyên ngành của Viện tại trụ sở Hà Nội và trụ sở TP. Hồ Chí Minh; triển khai các trung tâm dịch vụ hỗ trợ khách hàng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Mặt khác, tập trung nguồn lực đầu tư một tòa nhà đa năng vừa là nơi làm việc, vừa là nơi tập trung các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm là rất cần thiết. Quy mô tòa nhà đầu tư có tổng diện tích sàn khoảng 30.000 m².

Quyết định số 3502/QĐ-BCT nêu rõ, đầu tư có trọng điểm các hệ thống mô phỏng, phòng thí nghiệm, trung tâm thử nghiệm chuyên ngành của Viện Nghiên cứu Cơ khí đạt tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo, vật liệu composite, khí động học.

Quỳnh Nga

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/xay-dung-vien-nghien-cuu-co-khi-thanh-to-chuc-nghien-cuu-trien-khai-cong-nghe-hang-dau-449507.html