'Xây nhà' cho tôm cá trên đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Dưới mặt nước Tam Giang - Cầu Hai, những cụm rạn nhân tạo đang tạo thêm nơi trú ngụ, sinh sản cho thủy sản. Những “ngôi nhà” ấy gửi gắm kỳ vọng phục hồi nguồn lợi, giữ sinh kế lâu dài cho người dân ven phá.


Chiếc thuyền nhỏ của ông Nguyễn Khoai, Chi hội trưởng Chi hội Nghề cá Giang Xuân, xã Vinh Lộc đưa chúng tôi đến khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đập Tây - Chùa Ma. Bên dưới mặt nước là những cụm rạn nhân tạo được thả từ năm 2025. Những “ngôi nhà” ấy không hiện lên trước mắt người đi thuyền, nhưng với ngư dân, đó là nơi gửi gắm hy vọng về những mùa đánh bắt dồi dào tôm, cá hơn.
Gắn bó với nghề cá hơn 40 năm, ông Khoai vẫn nhớ thời nguồn lợi đầm phá còn phong phú. Tôm cá sinh sôi dồi dào, trong đó có cá ong hương, ong bầu, cá nâu, cá dìa. Đầm phá đã nuôi sống người dân ven bờ qua nhiều thế hệ. Từ khoảng năm 2010, nghề lừ phát triển mạnh, cường lực khai thác ngày càng tăng. Nguồn lợi suy giảm, thu nhập của những người sống bằng nghề cá cũng giảm theo.

Ông Khoai chia sẻ: “Nếu trước đây, mỗi đêm khai thác có thể thu nhập khoảng 1 triệu đồng thì những năm sau này, thu nhập giảm xuống chỉ còn 300-400 nghìn đồng/đêm. Có những đêm gần như không có thu nhập”.Sau một năm thả rạn nhân tạo, ông Khoai nhận thấy rong phát triển tốt tại các bãi giống, bãi đẻ; cá nâu, cá dìa, cua, ghẹ cũng xuất hiện nhiều hơn. Những thay đổi bước đầu ấy khiến ông hy vọng nguồn lợi đầm phá sẽ dần phục hồi, giúp bà con ổn định sinh kế hơn.
Tam Giang - Cầu Hai có gần 22.000ha mặt nước. Áp lực khai thác quá mức, nhất là việc sử dụng xung điện và các hình thức khai thác hủy diệt, đã làm suy giảm nguồn lợi tự nhiên. Muốn tôm cá sinh sôi trở lại, việc bảo vệ bãi giống, bãi đẻ, tạo nơi cư trú phải đi cùng kiểm soát chặt hoạt động khai thác.

Năm 2025, Chi cục Thủy sản thành phố Huế hoàn thành thả thí điểm 10 cụm rạn nhân tạo, kinh phí 500 triệu đồng, tại vùng lõi ba khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Đập Tây - Chùa Ma, Hà Nã ở xã Vinh Lộc và Đá Miếu ở xã Lộc An. Các cấu kiện được đúc bằng bê tông theo hình parabol cụt rỗng, cao 0,6 m, vận chuyển từ đất liền ra đầm phá rồi bố trí thành từng cụm. Mỗi vùng lõi có 3-4 cụm, mỗi cụm gồm 40-50 đơn vị rạn.
Ông Trần Quang Nhất, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản thành phố Huế cho biết, mô hình nhằm tái tạo bãi đẻ tự nhiên, phục hồi các loài đặc sản như cá ong bầu, cá ong hương, cá nâu, cá đối. Kết quả theo dõi bước đầu ghi nhận những tín hiệu tích cực trong bảo tồn nguồn gen.
Tại xã Vinh Lộc, nơi có khoảng 4.500ha mặt nước đầm phá và hàng nghìn hộ dân sống phụ thuộc vào nghề cá, việc phục hồi nguồn lợi gắn trực tiếp với đời sống người dân. Hai vùng lõi được thả rạn là Đập Tây - Chùa Ma, diện tích 35ha và Hà Nã với diện tích 25ha. Từ mô hình thí điểm này, việc tạo nơi cư trú cho thủy sản tiếp tục được mở rộng.
Đầu tháng 10/2026, Chi cục Thủy sản triển khai thả thêm 4 cụm rạn, tổng kinh phí 900 triệu đồng, tại khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản Vũng Bùn, xã Phú Vang và Cồn Máy Bay, phường Phong Quảng.

Mỗi cụm trong đợt này được thiết kế 100 rạn, trong khi mỗi chuyến thuyền chỉ chở tối đa 4 rạn. Để đưa các cấu kiện đến vị trí bố trí, lực lượng thi công phải thực hiện nhiều chuyến vận chuyển. Đây là khâu khó khăn nhất, nhất là khi điều kiện thời tiết, sóng gió không thuận lợi. Những cụm rạn mới tiếp tục bổ sung nơi cư trú cho thủy sản, gắn với định hướng mở rộng diện tích vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt lên tối thiểu 10% tổng diện tích đầm phá.
Ngoài đầm phá, rạn nhân tạo còn được triển khai tại vùng biển Chân Mây - Lăng Cô, thuộc dự án “Phục hồi, tái tạo hệ sinh thái thủy sinh và nguồn lợi thủy sản”. Hợp phần do Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố triển khai có quy mô đầu tư 150 tỷ đồng. Trên diện tích khoanh vùng 300ha, 127 cụm rạn đã được đặt xuống đáy biển, góp phần hạn chế hoạt động giã cào và tạo nơi trú ngụ cho thủy sản.


Toàn vùng đầm phá hiện có 22 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tổng diện tích 11.617,1ha, chiếm 52,8% diện tích đầm phá. Trong đó, vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt có 614,2ha, tương đương khoảng 2,79%. Việc quản lý trước đây do UBND tỉnh (nay là UBND thành phố Huế) giao trực tiếp cho các chi hội nghề cá.
Chi hội Nghề cá Giang Xuân có 124 hội viên, gắn bó với những nghề truyền thống như nò sáo, thả chuôm. Chi hội được Nhà nước giao quản lý 996ha mặt nước; trong đó, 35ha được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước để xây dựng khu vực bãi giống, bãi đẻ. Để bảo vệ khu vực này, chi hội đã cắm 28 mốc giới cảnh báo cấm khai thác, đồng thời phối hợp với lực lượng chức năng duy trì 5-6 đợt tuần tra mỗi năm.
Cùng với thả rạn, hoạt động bổ sung con giống được triển khai tại nhiều địa phương. Từ đầu năm 2026 đến nay, Chi cục Thủy sản thành phố Huế đã phối hợp tổ chức sáu đợt tái tạo nguồn lợi, thả khoảng 1,5 triệu con giống về tự nhiên. Riêng Tam Giang - Cầu Hai tiếp nhận hàng trăm nghìn con giống bản địa có giá trị cao. Mới đây, hơn 46.000 con giống cá dìa và cua tiếp tục được thả tại khu bảo vệ Đá Miếu và Đá Dầm, xã Lộc An.

Các khâu sản xuất, ương dưỡng và kiểm soát dịch bệnh được theo dõi chặt chẽ. Trước khi thả, ngành nông nghiệp kiểm tra chất lượng con giống, khảo sát môi trường nước để bảo đảm khả năng sống và thích nghi khi trở về tự nhiên. Sau mỗi đợt thả giống, các chi hội nghề cá vận động hội viên không khai thác tại khu vực vừa tái tạo; phân công lực lượng tuần tra, kiểm soát để bảo vệ con giống trong giai đoạn đầu sinh trưởng.
Tại khu bảo vệ Đá Miếu, ông Nguyễn Văn Đức thuộc Chi hội Nghề cá xã Lộc An, bày tỏ: “Thay vì chỉ hỗ trợ kinh phí trực tiếp, ngư dân chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự đầu tư của Nhà nước trong việc mở rộng diện tích rạn nhân tạo kết hợp thả bổ sung nguồn giống thủy sản. Đây mới là cách tạo dựng sinh kế lâu dài, bền vững nhất cho bà con ngư dân”.
Với người dân ven phá, phục hồi nguồn lợi cũng là giữ nghề cho những năm tới. Những cụm rạn và con giống được thả xuống cần sự gìn giữ của cộng đồng để tôm cá có cơ hội sinh trưởng, sinh sản. Từ đó, tiếp tục tạo sinh kế cho người dân ven phá.

