Xóa 'vùng mù' thông tin đất đai, mở cơ hội sinh kế cho đồng bào vùng cao
Nhiều vùng sâu và xa vẫn là 'vùng lõm' về tiếp cận thông tin đất đai, dễ nảy sinh 'điểm nóng". Những chuyển động chính sách từ cơ sở tại Quảng Trị đang mở ra ‘lời giải’ cho ‘bài toán’ sinh kế, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số.

Xã miền núi biên giới Dân Hóa có tổng diện tích tự nhiên hơn 36 nghìn ha trải rộng trên 14 bản
Hệ lụy lớn khi mù mờ thông tin đất đai
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đất đai là tư liệu sản xuất cốt lõi, là cội nguồn sinh kế. Tuy nhiên, thực tế cơ sở tại tỉnh Quảng Trị cho thấy vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa 'thông tin được công bố' và 'người dân thực sự tiếp cận được thông tin về đất đai'.

Cơ cấu đất đai tại tỉnh Quảng Trị.
Tại xã miền núi biên giới Dân Hóa - địa bàn vừa được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai xã Dân Hóa và Trọng Hóa cũ, bức tranh quản lý đất đai phản ánh rõ nét những thách thức của vùng cao.
Với tổng diện tích tự nhiên hơn 36 nghìn ha trải rộng trên 14 bản, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 95% dân số, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều chiếm tới 91,51% (hộ nghèo chiếm 72,09%, hộ cận nghèo chiếm 19,42%), đời sống bà con phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi hộ gia đình. Một bản quy hoạch dù được đăng tải đầy đủ trên mạng nhưng bà con không có thiết bị, thiếu sóng Internet, không có kỹ năng số hoặc không hiểu thuật ngữ pháp lý thì mục tiêu minh bạch vẫn chưa thể chạm tới đời sống.
Đặc biệt, tình trạng thiếu dữ liệu công khai, minh bạch về quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm trường đã bàn giao về địa phương khiến chính sách giao đất sản xuất cho đồng bào lâm vào cảnh khó triển khai vì người dân không biết quỹ đất ở đâu, vị trí nào, đã sạch hay chưa.

Tại một hội thảo mới đây ở tỉnh Quảng Trị, ông Dư Xuân Cảnh, đại diện Ban Quản lý rừng cộng đồng thôn 9, đã thẳng thắn chia sẻ tâm tư của bà con khi 'mù mờ' thông tin đất đai.
Hệ quả từ sự thiếu thông tin cũng đã hiện hữu qua câu chuyện được kể bởi ông Dư Xuân Cảnh, đại diện Ban Quản lý rừng cộng đồng thôn 9 (sau sáp nhập là thôn Ngọn Rào), xã Phong Nha. Khu vực này từng là 'điểm nóng' về tranh chấp, khiếu nại vượt cấp kéo dài suốt 3-4 năm trời giữa người dân với Công ty Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình. Nguyên nhân trực tiếp là do bà con không được tiếp cận thông tin chính thống. 'Điểm nóng' chỉ tạm thời ổn định khi công ty và chính quyền xã trực tiếp về bản, tuyên truyền, giải thích thấu đáo cho từng hộ dân.
Một trong những trăn trở lớn nhất hiện nay, theo lời ông Cảnh, là việc hưởng lợi từ các chính sách mới như dịch vụ môi trường rừng hay tín chỉ carbon vẫn là 'ẩn số' với người giữ rừng. Điển hình tại vùng Khe Rào, đơn vị lâm nghiệp quản lý hàng ngàn hecta rừng được hưởng lợi từ tín chỉ carbon nhưng cả cộng đồng thôn Bản Rào chỉ được nhận vỏn vẹn 50 triệu đồng/năm mà không được tiếp cận bất kỳ quyết định phân bổ hay căn cứ chi trả chính thức nào.



Tỉnh Quảng Trị đang nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa 'thông tin được công bố' và 'người dân thực sự tiếp cận được thông tin về đất đai".
'Vùng lõm' thông tin khiến người yếu thế dễ bị 'bỏ lại phía sau'
Dưới góc độ quản lý nhà nước về công tác dân tộc, ông Trần Hữu Ninh, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Trị bày tỏ băn khoăn: Việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc theo Điều 60 và Điều 75 của Luật Đất đai năm 2024. Thế nhưng tại tỉnh Quảng Trị, địa bàn cư trú lâu đời của 3 cộng đồng người dân tộc thiểu số chính là Bru - Vân Kiều, Pa Cô và Chứt, vẫn còn 18 bản hoàn toàn chưa có điện lưới quốc gia và 19 bản điện lưới chập chờn, nhiều nơi 'lõm sóng' viễn thông khiến việc tra cứu thông tin trực tuyến là điều bất khả thi.

Ông Trần Hữu Ninh, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Trị: "Toàn tỉnh vẫn còn 18 bản hoàn toàn chưa có điện lưới quốc gia và 19 bản điện lưới chập chờn, nhiều nơi 'lõm sóng' viễn thông gây khó khăn cho việc tra cứu thông tin".
Tham gia đoàn khảo sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, ông Ninh không khỏi xót xa khi chứng kiến có hộ gia đình gồm 5 cặp vợ chồng cùng con cái chen chúc trên một mảnh đất nhỏ hẹp. Do không nắm được thông tin chính sách, bà con cam chịu sống chật chội mà không làm đơn đề xuất với chính quyền.
Nhìn nhận vấn đề ở tầm vĩ mô của tỉnh, ông Phạm Thanh Tân, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị chỉ rõ, công tác xây dựng, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu đất đai để người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế, tiếp cận thông tin một cách thực chất, bình đẳng theo tinh thần Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 vẫn đang là những thách thức lớn cần lời giải từ góc độ thể chế và công nghệ.

Ông Phạm Thanh Tân, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị cho rằng vẫn còn nhiều thách thức lớn trong công tác xây dựng, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu đất đai để người dân, đặc biệt là đồng bào DTTS tiếp cận thông tin một cách thực chất.
“Cần bàn sâu về các giải pháp kỹ thuật cụ thể, làm sao để các trang thông tin điện tử, các ứng dụng số tại cấp xã tích hợp được công cụ hỗ trợ người khuyết tật, đồng bào thiểu số dễ dàng tra cứu, phản hồi, bảo đảm nguyên tắc ‘không ai bị bỏ lại phía sau’ trong tiến trình số hóa quản trị tài nguyên”, ông Tân khuyến nghị.
Nỗ lực số hóa và những chuyển động thực chất từ cơ sở
Trước những đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn cơ sở, chính quyền tỉnh Quảng Trị cùng các cơ quan chuyên môn đang chủ động triển khai hàng loạt giải pháp công nghệ và cải cách điều hành nhằm đưa thông tin đất đai đến gần hơn với nhân dân.
Thông tin một số kết quả bước đầu ấn tượng về chiến dịch làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn tỉnh, ông Trần Văn Khương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị nói: "Toàn tỉnh đã hoàn thành công tác đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính cho 78/78 xã, phường, đặc khu, đạt 100% diện tích tự nhiên. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh đã rà soát, phân loại và đồng bộ dữ liệu của toàn bộ 2,44 triệu thửa đất. Hệ thống thông tin đất đai đã kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu đến 77/78 xã, phường và liên thông với Cổng Dịch vụ công Quốc gia".
Đặc biệt, trong chiến dịch cao điểm làm giàu, làm sạch dữ liệu, tỉnh đã cập nhật hơn 2 triệu thửa đất lên Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai (VNLIS/VBDLIS), đạt tiêu chí "đúng - đủ - sạch - sống" với tỷ lệ 86,1% tổng số thửa đất toàn tỉnh. Kết quả này giúp Quảng Trị duy trì vị trí Top 5 toàn quốc về tỷ lệ dữ liệu đất đai nhóm 1. Nhờ chuẩn hóa quy trình và tích hợp mã định danh thửa đất, tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính về đất đai được giải quyết đúng và trước hạn tại địa phương đạt tới 98%.

Tuy vậy, ông Khương cũng thẳng thắn thừa nhận, việc làm sạch dữ liệu đất đai vẫn đối mặt với rào cản kỹ thuật khi tính đến ngày 27/8/2026, số thửa đất nhóm 1 đồng bộ lên Cơ sở dữ liệu quốc gia mới đạt hơn 1,9 triệu thửa trên tổng số hơn 2,3 triệu thửa (tương đương 84,4%) do hệ thống phần mềm VBDLIS đang nâng cấp và việc tái sắp xếp bộ máy chính quyền từ 3 cấp sang 2 cấp làm phát sinh nhiều biến động.
Nhiều chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai và cấp xã còn thiếu máy móc chuyên dụng, trong khi cán bộ địa chính xã vừa phải giải quyết thủ tục thường nhật vừa phải căng mình làm sạch dữ liệu.
Ở góc độ hạ tầng công nghệ và vận hành truyền thông chính sách, ông Lê Hoàng, Giám đốc Trung tâm Điều hành thông tin (thuộc Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị) phấn khởi cho hay, tính đến nay, Quảng Trị là địa phương tiên phong trong cả nước chuẩn hóa thành công chuyên mục 'Tiếp cận thông tin' trên 93/93 cổng thông tin điện tử thuộc các cơ quan chuyên môn và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh.
"Trung tâm đã chủ động thử nghiệm phân nhóm thông tin theo nhu cầu của người dân như: đất đai, quy hoạch, tài nguyên, môi trường, bồi thường, thu hồi đất... để bà con dễ tìm kiếm nhất", ông Hoàng chia sẻ thêm.

Ông Lê Hoàng, Giám đốc Trung tâm Điều hành thông tin (Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị) cho hay, đến nay, Quảng Trị là địa phương chuẩn hóa thành công chuyên mục 'Tiếp cận thông tin' trên 93/93 cổng thông tin điện tử thuộc các cơ quan trên địa bàn tỉnh.

Các lĩnh vực tiếp nhận nhiều ý kiến phản ánh của người dân trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị (thống kê của Trung tâm Điều hành thông tin tỉnh hồi đầu tháng 10/2026).
Góp phần quan trọng vào những bước tiến nêu trên là sự đồng hành bền bỉ của Dự án 'Tăng cường tiếp cận thông tin thông qua chuyển đổi số trong quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường' do Tổ chức Oxfam tài trợ, được triển khai bởi Trung tâm Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Quảng Trị cùng Trung tâm Nghiên cứu quản trị tài nguyên vùng cao (CEGORN).
Nhìn từ góc độ thực địa, TS. Ngô Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm CEGORN, thẳng thắn nhìn nhận, con đường đưa thông tin thành sinh kế vẫn còn nhiều chông gai. Điểm tựa quan trọng tại cơ sở hiện nay là các Tổ công nghệ số cộng đồng, song hầu hết thành viên còn hạn chế trình độ hiểu biết pháp lý chuyên sâu về đất đai. Nếu họ không khéo léo tuyên truyền, nắm không chắc luật thì thậm chí còn vô tình tạo ra sự nghi ngờ, mâu thuẫn giữa các hộ dân khi phát sinh tranh chấp.

TS. Ngô Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm CEGORN nhận định: "Để đồng bào miền núi hiểu đúng và ứng dụng dữ liệu vào phát triển sản xuất, đòi hỏi những nỗ lực kiên trì, thực chất hơn nữa từ cả hệ thống chính trị".
Ông Hồng nhận định, việc công khai thông tin trên 93 cổng thông tin điện tử tại Quảng Trị là thành quả rất đáng tự hào, song việc để đồng bào miền núi hiểu đúng và ứng dụng dữ liệu đó vào phát triển sản xuất, đòi hỏi những nỗ lực kiên trì, thực chất hơn nữa từ cả hệ thống chính trị.
Ví von 'thông tin là oxy của cuộc sống', TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính (Bộ Tư pháp) lưu ý, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công khai thông tin không thể rập khuôn trên mạng Internet mà phải đa kênh: tăng cường loa truyền thanh cơ sở, họp thôn bản, công khai sơ đồ trực quan và phát huy vai trò 'cầm tay chỉ việc' của Tổ công nghệ số cộng đồng...
“Pháp luật tốt phải đi cùng điều kiện thực thi khả thi, phải lấy sự hài lòng và khả năng tự bảo vệ quyền lợi của người dân nghèo làm thước đo đánh giá cuối cùng”, bà Thoa nhấn mạnh.

