Xử lý tốt nợ xấu để tạo nguồn lực cho phát triển
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79-NQ/TW) đã đưa ra cách tiếp cận mới, mang tính chiến lược đối với công tác xử lý nợ xấu...

Toàn cảnh tọa đàm
Xử lý nợ xấu gặp nhiều trở ngại
Phát biểu khai mạc Tọa đàm “Nợ xấu trong bối cảnh mới”, TS. Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, theo đánh giá của Chính phủ, Nghị quyết 42/2017/ QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD đã phát huy hiệu quả, hỗ trợ ngành Ngân hàng xử lý nợ xấu trong thời gian qua. Tuy nhiên, sau khi Nghị quyết 42 hết hiệu lực, nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19, khủng hoảng kinh tế cũng như những biến động địa chính trị khiến kinh tế toàn cầu gặp nhiều thách thức. Doanh nghiệp Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Trong bối cảnh đó, nợ xấu, nợ xấu tiềm ẩn và các rủi ro luôn hiện hữu, tác động trực tiếp đến hoạt động của các TCTD.
TS. Nguyễn Quốc Hùng dẫn số liệu sơ bộ cho thấy, tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn hiện ở mức khoảng 2,8%. Nếu nguồn lực này được khai thác và đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh tế mang lại sẽ vô cùng to lớn. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí cho các TCTD, mà còn đưa dòng vốn trở lại lưu thông, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. “Chính vì vậy, việc xử lý và thu hồi nợ xấu là nhiệm vụ cấp thiết”, TS. Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, ông Trần Trung Dũng, Chủ tịch HĐTV VAMC cho rằng, điểm nghẽn hiện nay là thiếu những chế tài đủ mạnh để củng cố kỷ luật tín dụng trên thị trường. Hệ quả là nợ xấu đang hình thành từ hai nguồn song song: một phần xuất phát từ nguyên nhân khách quan như kinh tế khó khăn, thị trường đi xuống khiến khách hàng mất khả năng trả nợ; phần còn lại bắt nguồn từ sự thiếu minh bạch và kỷ luật thị trường. Với nhóm thứ hai, tình trạng chây ì, dây dưa nghĩa vụ ngày càng phổ biến, thậm chí hình thành các nhóm khách hàng vay mượn hộ, vay chéo và đảo nợ lẫn nhau theo cách ngày càng phức tạp.
Nhìn ở bình diện rộng hơn, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia cũng phân tích, cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam vẫn thiếu cân đối và phụ thuộc lớn vào hệ thống TCTD. Nếu năm 2020, tín dụng chiếm khoảng 36% tổng cung vốn cho nền kinh tế, thì đến năm 2025, tỷ lệ này không những không giảm mà còn tăng lên 51%. Đáng chú ý, tín dụng liên tục tăng nhanh hơn huy động vốn, khiến áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt từ quý IV/2025 đến nay.
“Nếu không có các giải pháp kịp thời, sức ép này có thể chuyển hóa thành rủi ro đối với an toàn hệ thống”, TS. Cấn Văn Lực cảnh báo.
Không chỉ đối mặt với nguy cơ nợ xấu gia tăng, hoạt động xử lý nợ xấu tại Việt Nam lại đang đối mặt với nhiều thách thức đặc thù đó là quyền chủ nợ chưa được bảo vệ tương xứng, trong khi thời gian xử lý kéo dài do thị trường mua bán nợ chưa phát triển.
Từ góc nhìn thực tiễn, ông Phạm Tiến Thịnh, Phó Trưởng phòng xử lý nợ VietinBank cho biết, dù đã triển khai đồng thời nhiều biện pháp như xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ và khởi kiện nhưng hiệu quả thu hồi trên thực tế vẫn bị bào mòn bởi những vướng mắc kéo dài. “Quá trình xử lý tài sản bảo đảm được xem là “điểm tựa” quan trọng nhất để thu hồi nợ cũng đang đối mặt với nhiều rào cản. Các tài sản gắn với dự án đầu tư, đặc biệt là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, khi đưa vào xử lý thường vướng ở khâu chuyển giao quyền và nghĩa vụ. Cùng với đó, việc áp thuế giá trị gia tăng đối với tài sản bảo đảm từ giữa năm 2025 đã làm gia tăng chi phí, kéo giảm sức hấp dẫn của tài sản, nhất là trong bối cảnh thị trường chưa phục hồi hoàn toàn”, đại diện VietinBank chia sẻ thêm.
Kỳ vọng những bước ngoặt về thể chế
Theo ông Đặng Đình Thích, quyền Tổng giám đốc VAMC, trong thời gian qua, VAMC tiếp tục giữ vai trò là công cụ đặc thù của Nhà nước trong hỗ trợ xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính – ngân hàng. Đáng chú ý, trong những năm gần đây, VAMC đã có sự chuyển dịch rõ rệt trong phương thức hoạt động, từ mô hình mua nợ mang tính kỹ thuật sang tiếp cận theo cơ chế thị trường, gắn xử lý nợ với xử lý tài sản bảo đảm, cơ cấu lại khách hàng vay và từng bước kết nối với các nhà đầu tư. Điều này phản ánh một sự thay đổi quan trọng về vai trò, từ xử lý nợ mang tính “làm sạch bảng cân đối” sang tham gia tích cực hơn vào quá trình phân bổ lại nguồn lực của nền kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng cho thấy hoạt động xử lý nợ xấu nói chung và của VAMC nói riêng vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, vướng mắc mang tính hệ thống. Trước hết, khuôn khổ pháp lý cho xử lý nợ xấu chưa thực sự hoàn thiện và đồng bộ. Để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu, không thể chỉ dựa vào nỗ lực của riêng VAMC hay các tổ chức tín dụng, mà cần một cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ từ chính sách đến thực thi.
Trước thực tế đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79-NQ/TW) đã đưa ra cách tiếp cận mới, mang tính chiến lược đối với công tác xử lý nợ xấu. Theo đó, xử lý nợ xấu không còn được nhìn nhận thuần túy là một nhiệm vụ kỹ thuật của ngành Ngân hàng, mà được đặt trong tổng thể việc khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế.
Từ định hướng này, vai trò của VAMC được xác định theo hướng nâng tầm, trở thành công cụ nòng cốt của Nhà nước trong việc khơi thông nguồn lực tài chính. Đồng thời, yêu cầu đặt ra là đổi mới mạnh mẽ cơ chế hoạt động theo hướng thị trường; phát triển thị trường mua bán nợ với VAMC giữ vai trò trung tâm; và nâng cao năng lực toàn diện của tổ chức này. Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra những yêu cầu rất rõ ràng và mang tính định hướng dài hạn. Nâng tầm vai trò của VAMC từ một tổ chức xử lý nợ thành công cụ nòng cốt của Nhà nước trong khơi thông nguồn lực tài chính. Đồng thời, đổi mới mạnh mẽ cơ chế hoạt động theo hướng thị trường; phát triển thị trường mua bán nợ, với VAMC đóng vai trò trung tâm; nâng cao năng lực toàn diện của VAMC.
“Có thể nói, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã đặt ra một yêu cầu mang tính bước ngoặt, chuyển từ tư duy “xử lý nợ xấu” sang “quản lý và khai thác nguồn lực từ nợ xấu”, ông Thích nhấn mạnh.
Trong thời gian tới, VAMC sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, đẩy mạnh hoạt động mua, bán và xử lý nợ theo giá thị trường; mở rộng phạm vi hoạt động theo hướng chuyên nghiệp hóa đồng thời phát triển thị trường mua bán nợ, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị.
Cùng với Nghị quyết số 79-NQ/TW, TS. Cấn Văn Lực đề xuất cần đẩy nhanh hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ cho thị trường mua bán nợ. Trong đó, đáng chú ý là việc xem xét mở rộng quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho các chủ thể ngoài ngân hàng, cho phép mua - bán nợ theo giá thị trường, kể cả dưới giá trị sổ sách, đồng thời sớm xây dựng hành lang pháp lý cho chứng khoán hóa nợ. Mặt khác, cần phát triển thị trường thứ cấp, hoàn thiện sàn giao dịch nợ xấu và hệ sinh thái các tổ chức trung gian. Đồng thời, việc tái cơ cấu các TCTD yếu kém và doanh nghiệp nhà nước cũng cần gắn với xử lý nợ xấu.
Ở góc độ trực tiếp thực thi, ông Phạm Tiến Thịnh kiến nghị, cần có cơ chế đẩy nhanh tiến độ giải quyết, xử lý vụ việc của Tòa án, cơ quan thi hành án, đảm bảo thực hiện đúng các quy định pháp luật về thời hạn tố tụng, thời hạn thi hành án nhằm tăng hiệu quả xử lý, thu hồi nợ xấu của các TCTD.
Đồng thời, nâng cao năng lực, chất lượng và trách nhiệm giải quyết, xét xử tranh chấp kinh doanh thương mại của đội ngũ thẩm phán, đảm bảo tuyên các bản án, quyết định đúng pháp luật, phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các bên và có tính khả thi để đảm bảo hiệu quả thi hành.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/xu-ly-tot-no-xau-de-tao-nguon-luc-cho-phat-trien-180814.html











