Xuân về nhớ Bác

Tuổi đã gần bảy mươi, mỗi độ Tết đến xuân về, tôi lại thấy lòng mình nao nao, bởi những ký ức cứ lặng lẽ trở về, rõ ràng đến lạ. Trong dòng ký ức ấy, có một hình ảnh không bao giờ phai: Đêm giao thừa cả gia đình quây quần bên chiếc radio, lắng nghe Bác Hồ chúc Tết và đọc thơ Xuân.

Vòng xòe đoàn kết tại Quảng trường Tây Bắc.Ảnh: PV

Vòng xòe đoàn kết tại Quảng trường Tây Bắc.Ảnh: PV

Những năm sáu mươi của thế kỷ trước, đất nước còn trong khói lửa chiến tranh. Tết nghèo, nhà nghèo, nhưng lòng người thì giàu niềm tin. Nhà tôi khi ấy chưa có lịch bloc, càng không có pháo hoa. Thứ duy nhất được chuẩn bị kỹ lưỡng cho đêm ba mươi là... chiếc radio. Cha tôi thường bảo: “Giao thừa mà chưa nghe Bác chúc Tết thì chưa phải là Tết”. Giây phút giọng Bác vang lên trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, không gian như lắng lại. Giọng Người trầm ấm, chậm rãi, vừa là lời chúc vừa như lời tâm sự của một người cha với đại gia đình dân tộc. Rồi Bác đọc thơ. Những câu thơ ngắn, dễ nhớ, nôm na mà sâu sắc. Đúng như chính Người từng nói: “Mấy lời thân ái nôm na, vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân”. Khi ấy, tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết những tầng nghĩa của thơ. Nhưng tôi nhớ rất rõ cảm giác nghe thơ Bác là thấy yên lòng. Dường như giữa bom đạn, giữa thiếu thốn, chỉ cần nghe Bác nói, nghe Bác đọc thơ là tin rằng đất nước nhất định sẽ qua cơn bĩ cực.

Lớn lên đi học, rồi đứng trên bục giảng dạy văn, tôi mới dần hiểu vì sao thơ Xuân của Bác có một vị trí đặc biệt đến thế trong đời sống tinh thần dân tộc. Đó không chỉ là thơ chúc Tết thông thường mà là những văn kiện lịch sử được viết bằng ngôn ngữ thi ca, là định hướng cách mạng được truyền đạt bằng trái tim. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã sáng tác khoảng 22 bài thơ chúc Tết (thơ xuân) từ năm 1942 đến năm 1969. Đó là những vần thơ gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước mỗi dịp Tết đến Xuân về, thường mang nội dung dự báo, động viên và khẳng định niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Ngay từ mùa xuân đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Xuân Bính Tuất 1946, Bác đã cảm nhận rất rõ ý nghĩa lịch sử của mùa xuân độc lập ấy: “Tết này mới thật Tết dân ta/Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia/Độc lập đầy vơi ba cốc rượu/Tự do vàng đỏ một rừng hoa”. Đọc lại những câu thơ này trong những năm làm nghề giáo, tôi luôn nhấn mạnh với học trò: Đây là mùa xuân của kỷ nguyên mới. Mùa xuân của một dân tộc lần đầu tiên làm chủ vận mệnh mình. Chữ “độc lập”, chữ “tự do” trong thơ Bác không trừu tượng mà hiện lên bằng hình ảnh rất đời: cốc rượu, rừng hoa... giản dị mà thiêng liêng. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, giữa núi rừng Việt Bắc, thơ Xuân của Bác lại mang âm hưởng hào sảng của một khúc quân hành. Bài thơ chúc Tết Xuân Đinh Hợi 1947 mà Bác đọc trên sóng phát thanh thực sự là một áng hùng văn: “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió/Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông/Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng...”.

Càng dạy văn lâu, tôi càng nhận ra thơ Xuân của Bác luôn song hành hai phẩm chất tưởng chừng đối lập mà lại hòa quyện hoàn hảo: chất thép của người chiến sĩ và chất xuân của một thi nhân. Điều ấy thể hiện rõ nhất trong bài Nguyên tiêu, kiệt tác mùa xuân Bác viết năm 1948: “Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên/Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên/Yên ba thâm xứ đàm quân sự/Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”. Giữa lúc “đàm quân sự”, giữa vận mệnh dân tộc đang treo trên từng quyết định, Bác vẫn dành cho trăng, cho sông nước một khoảng lặng tuyệt đẹp. Khi giảng bài thơ này, tôi thường nói với học trò: Đó là phong thái của một trí tuệ lớn, càng gánh việc nặng, tâm hồn càng sáng trong. Con thuyền việc nước trở về trong ánh trăng đầy như mang theo niềm tin viên mãn vào ngày thắng lợi. Những năm chống Mỹ, thơ Xuân của Bác trở nên ngắn gọn, dồn nén, như mệnh lệnh ra trận. Tôi không thể quên không khí Xuân Mậu Thân 1968, khi cả nước lặng đi nghe Bác đọc: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng lợi tin vui khắp nước nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”. Đó không chỉ là thơ. Đó là hiệu lệnh lịch sử. Và rồi Xuân 1969 - mùa xuân cuối cùng của Bác. Khi đọc lại bài thơ ấy, tôi luôn thấy nghẹn ngào: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến ắt càng thắng to/Vì độc lập, vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/Tiến lên chiến sỹ đồng bào/Bắc - Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”. Bác viết những câu thơ ấy trong lúc sức khỏe đã rất yếu, nhưng niềm tin thì chưa bao giờ suy giảm. Người trao lại mùa xuân cho dân tộc, trước khi đi vào cõi vĩnh hằng.

Giờ đây, khi đã rời bục giảng, mỗi độ xuân về, tôi vẫn giữ cho mình thói quen cũ: Nghe lại thơ Xuân của Bác. Không phải để nghiên cứu mà để nhắc mình sống cho xứng đáng với niềm tin mà Người đã gửi gắm.

Với tôi, thơ Xuân của Bác không chỉ tồn tại như một đối tượng thẩm mỹ hay một văn bản cần phân tích mà đã trở thành một phần của ký ức. Ký ức của một đứa trẻ miền núi năm xưa và của một nhà giáo đã trọn đời gắn bó với sự nghiệp giáo dục, đào tạo nơi miền biên viễn của Tổ quốc.

Và mỗi độ xuân về, tôi càng thêm cảm nhận: Chừng nào trong đời sống giáo dục còn có những người thầy biết lắng nghe ký ức, biết trân trọng những giá trị tinh thần đã được thử thách qua thời gian, thì mùa xuân của đất nước vẫn còn được gìn giữ trong lòng người, không ồn ào, không phô trương mà bền bỉ như một mạch ngầm văn hóa, chảy suốt cùng lịch sử và con người Việt Nam.

Hoàng Kim Ngọc (CTV)

Nguồn Sơn La: https://baosonla.org.vn/van-hoa-xa-hoi/xuan-ve-nho-bac-dnAhktDvR.html