Xuất bản là ngành kinh tế - công nghệ, công nghiệp văn hoá và hạ tầng tri thức quốc gia
Sáng 10.9, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước Luật Xuất bản và 14 luật khác đã được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất.
Các luật được công bố gồm: Luật Dầu khí; Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Phát triển đô thị;

Ông Cấn Đình Tài, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước công bố Lệnh của Chủ tịch nước đối với 15 luật đã được Quốc hội khoá XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản; Luật Hòa giải ở cơ sở; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện; Luật Viễn thông; Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.
Xuất bản là lĩnh vực văn hóa - tư tưởng và ngành kinh tế - công nghệ
Luật số 17/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 24.8.2026. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1.3.2027; riêng quy định về in xuất khẩu xuất bản phẩm có hiệu lực từ ngày 1.1.2029.
Luật gồm 3 điều. Trong đó, Điều 1 gồm 33 khoản, sửa đổi, bổ sung 31 điều, đồng thời bãi bỏ 7 điều của Luật Xuất bản hiện hành. Điều 2 sửa đổi, bổ sung Danh mục phí, lệ phí; Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành và chuyển tiếp.
Giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng cho biết, một trong những nội dung quan trọng của Luật là xác định hoạt động xuất bản vừa là lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, vừa là ngành kinh tế - công nghệ, bộ phận của công nghiệp văn hóa và hạ tầng tri thức quốc gia.
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong định hướng phát triển; đồng thời bảo đảm quyền sáng tạo, quyền phổ biến tác phẩm, quyền tác giả, quyền liên quan và môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Luật tiếp tục khẳng định Nhà nước không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản. Nhà xuất bản trực tiếp tổ chức biên tập, độc lập quyết định nội dung và chịu trách nhiệm về xuất bản phẩm. Quản lý nhà nước được thực hiện theo hướng kết hợp phòng ngừa với hậu kiểm, tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm của từng chủ thể.

Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản
Luật bổ sung, hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và mô hình chính quyền địa phương hai cấp; chuyển mạnh phương thức quản lý từ hồ sơ, thủ tục hành chính sang quản lý bằng dữ liệu; đẩy mạnh xây dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo nguyên tắc một lần cung cấp, nhiều lần sử dụng.
Luật hoàn thiện chính sách đặt hàng, hỗ trợ sáng tác, mua và khai thác bản quyền, dịch thuật, quảng bá xuất bản phẩm Việt Nam; phát triển xuất bản điện tử, hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu, văn hóa đọc và nguồn nhân lực. Chính sách này cũng hướng tới hỗ trợ tác giả, đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Đáng chú ý, Luật tạo cơ sở pháp lý để hình thành, phát triển cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia và tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm. Đây không phải là loại hình pháp nhân mới mà là mô hình tổ chức theo pháp luật hiện hành.
Đối với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo, Luật xác định việc ứng dụng công nghệ không làm thay đổi, giảm nhẹ hoặc chuyển giao trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân. Chủ thể sử dụng trí tuệ nhân tạo phải chịu trách nhiệm về nội dung, bảo đảm quyền tác giả, quyền liên quan và kiểm soát rủi ro trong quá trình tạo lập, biên tập, chuyển đổi và phổ biến nội dung.
Luật cũng hoàn thiện quy định về phòng, chống in lậu, in nối bản trái phép, in giả xuất bản phẩm; tăng cường khả năng phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm; bảo đảm truy xuất nguồn gốc, xác định chủ thể chịu trách nhiệm đối với từng công đoạn.
Đối với xuất bản phẩm có nội dung về lịch sử cách mạng, chủ quyền, an ninh quốc gia, lãnh tụ và lãnh đạo đất nước, anh hùng dân tộc, hoạt động quản lý được thực hiện qua ba lớp: Nhà xuất bản tự thẩm định nội dung; cơ quan chủ quản kiểm tra kết quả thẩm định của nhà xuất bản trong quá trình đăng ký kế hoạch; Bộ VHTTDL đọc, kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu và cho ý kiến trước khi phát hành.
Cơ chế này chỉ áp dụng đối với phạm vi do Chính phủ quy định, không mở rộng đối với mọi xuất bản phẩm và không làm thay đổi nguyên tắc Nhà nước không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản.
Luật bổ sung quy định về cung cấp dịch vụ trung gian phát hành, yêu cầu tổ chức cung cấp dịch vụ bảo đảm xác định được tổ chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm; lưu giữ và cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; áp dụng biện pháp bảo vệ quyền tác giả, ngăn chặn, gỡ bỏ hoặc hạn chế truy cập nội dung vi phạm.
Phổ biến pháp luật trên nền tảng số
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 12/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 23.8.2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.3.2027 và thay thế Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.

Toàn cảnh họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 15 luật
Luật gồm 5 chương, 39 điều, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh và kiến nghị về chính sách, pháp luật.
Luật quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế trong xây dựng tài liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đồng thời bổ sung trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, người sử dụng lao động và cơ quan báo chí.
Luật quy định 8 nhóm đối tượng đặc thù, trong đó bổ sung người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo, người cao tuổi, người chấp hành xong án phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng và nạn nhân của hành vi mua bán người; mở rộng nhóm “người dân tộc thiểu số” và “nạn nhân bạo lực”.
Một nội dung đáng chú ý là việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các nền tảng số trong phổ biến, giáo dục pháp luật phải bảo đảm an toàn, phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
Thông tin đầu vào phải được kiểm soát dựa trên dữ liệu chính thức của cơ quan nhà nước; thực hiện kiểm chứng trước khi cung cấp, gắn nhãn cảnh báo, đính chính và chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu đầu vào.
Luật nghiêm cấm việc tạo lập, phát tán thông tin, tài liệu giả mạo hoặc làm sai lệch nội dung pháp luật, chính sách. Cổng Pháp luật quốc gia được xác định là nền tảng số quốc gia về pháp luật dùng chung cho các ngành, lĩnh vực.
Cơ chế đặc thù cho phát triển đô thị
Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 24.8.2026, với 465 đại biểu tán thành trên tổng số 474 đại biểu tham gia biểu quyết, đạt 93% tổng số đại biểu Quốc hội. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1.10.2026.
Luật gồm 5 chương, 66 điều, quy định các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt.
Các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại Luật được áp dụng trực tiếp đối với TP.HCM và thành phố khác là đô thị đặc biệt; riêng Hà Nội thực hiện theo Luật Thủ đô. Cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt được áp dụng trực tiếp cho khu kinh tế đặc biệt.
Luật xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách toàn diện, vượt trội, tạo điều kiện để TP.HCM và thành phố khác là đô thị đặc biệt phát triển đồng bộ về thể chế, hạ tầng, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, nguồn lực phát triển và liên kết, phát triển vùng.
Việc phân cấp, phân quyền được thực hiện triệt để, toàn diện, gắn với cơ chế giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình. Luật mở rộng thẩm quyền của thành phố trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thí điểm cơ chế, chính sách, thử nghiệm có kiểm soát.
Luật tạo cơ sở pháp lý ổn định để thúc đẩy phát triển các lĩnh vực then chốt như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, logistics, kinh tế biển, khu đô thị lấn biển, hạ tầng năng lượng, giáo dục, y tế, văn hóa, du lịch, thu hút đầu tư, nhà đầu tư chiến lược, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đối với khu kinh tế đặc biệt, Luật quy định cơ chế pháp lý về công nhận xã, phường hoặc đặc khu là khu kinh tế đặc biệt; đồng thời xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách đặc thù, đột phá về tổ chức bộ máy, quy hoạch, xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng, huy động nguồn lực, phát triển kinh tế biển, khu phi thuế quan và hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế.
Hoạt động triển khai các cơ chế, chính sách phải chịu sự giám sát, thanh tra, kiểm tra và thực hiện trách nhiệm giải trình theo quy định.
Kiến trúc gắn với bản sắc văn hóa dân tộc
Luật số 19/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc được Quốc hội thông qua ngày 24.8.2026 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1.3.2027.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc
Luật gồm 3 điều. Trong đó, Điều 1 gồm 15 khoản, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Điều 2 quy định về hiệu lực thi hành và sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 40 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn; Điều 3 quy định chuyển tiếp.
Luật cụ thể hóa, luật hóa các quy định về thẩm quyền quản lý kiến trúc và hành nghề kiến trúc phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tiếp tục phân quyền, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Nội hàm “bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc” được làm rõ, gắn kiến trúc với bảo tồn và phát huy giá trị di sản, văn hóa vùng miền; khuyến khích phát triển kiến trúc mang bản sắc vùng miền, phù hợp với điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội của từng địa phương.
Các công cụ quản lý kiến trúc tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt là quy chế quản lý kiến trúc, thi tuyển ý tưởng kiến trúc và tuyển chọn ý tưởng, phương án kiến trúc. Luật bổ sung quy định về những công trình không bắt buộc phải thi tuyển kiến trúc; trường hợp cần thiết phải thi tuyển thì người có thẩm quyền quyết định trên cơ sở bảo đảm tiến độ thực hiện dự án.
Luật đồng thời bổ sung các yêu cầu phát triển kiến trúc xanh, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu; hoàn thiện cơ chế hành nghề theo chuẩn quốc tế, đơn giản hóa thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý kiến trúc, hành nghề kiến trúc.
Thời gian thẩm định nhiệm vụ quy hoạch không quá 15 ngày, thời gian thẩm định quy hoạch không quá 20 ngày kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận được đầy đủ hồ sơ.

