Xuất khẩu tăng mạnh, vì sao doanh nghiệp Việt vẫn khó bước sâu vào chuỗi cung ứng?

Sáng nay (31/10), Quốc hội tiếp tục thảo luận ở Hội trường về kinh tế - xã hội. Một trong nhiều vấn đề được các đại biểu Quốc hội quan tâm liên quan đến tình trạng khẩu tăng trưởng mạnh nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp khó khăn khi tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, đặc biệt ở những khâu có giá trị gia tăng cao. Các đại biểu đề nghị chuyển trọng tâm từ thu hút đầu tư theo quy mô vốn sang nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng thực chất trong các chuỗi giá trị toàn cầu.

Xuất khẩu tăng nhưng doanh nghiệp gặp khó khăn khi tham gia chuỗi cung ứng (Ảnh: chinhphu.vn)

Xuất khẩu tăng nhưng doanh nghiệp gặp khó khăn khi tham gia chuỗi cung ứng (Ảnh: chinhphu.vn)

Xuất khẩu tăng, giá trị giữ lại trong nước được bao nhiêu?

Xuất khẩu tăng trưởng mạnh là một trong những kết quả nổi bật của nền kinh tế năm 2026. Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực ấy, đại biểu Phạm Hùng Thắng (Đoàn Ninh Bình) đặt ra vấn đề cần quan tâm hơn trong giai đoạn tới: Doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia đến đâu trong chuỗi cung ứng và tạo ra được bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế?

Theo số liệu đại biểu dẫn từ báo cáo của Chính phủ, trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu tăng 24,5%, trong khi nhập khẩu tăng 36,7%. Khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu lớn, còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục xuất siêu.

Đại biểu Phạm Hùng Thắng nhìn nhận, nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất là cần thiết. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa hai khu vực cho thấy yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp trong nước.

Điều đáng quan tâm là nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp đầu chuỗi về công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và khả năng giao hàng ổn định. Đây là những điều kiện quyết định để doanh nghiệp có thể trở thành nhà cung ứng, thay vì chỉ tham gia những công đoạn gia công đơn giản.

Theo đại biểu, không thể đồng nhất sự hiện diện của các tập đoàn kinh tế lớn với hiệu quả chuyển giao công nghệ. Nếu doanh nghiệp trong nước chủ yếu đảm nhận khâu gia công, còn thiết kế, vật liệu, linh kiện quan trọng và kỹ thuật cao vẫn phụ thuộc vào bên ngoài, thì kim ngạch xuất khẩu tăng chưa đồng nghĩa với năng lực tự chủ của nền kinh tế được nâng lên tương ứng.

Từ góc nhìn đó, đại biểu đề nghị chuyển cách đánh giá hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài. Thay vì chủ yếu dựa vào số lượng dự án và quy mô vốn đăng ký, cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng liên kết, khả năng chuyển giao công nghệ và sức lan tỏa đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Cùng quan tâm đến vấn đề này, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh (Đoàn Ninh Bình) cho rằng yêu cầu phát triển năng lực nội sinh phải được đặt rõ hơn trong chính sách tăng trưởng.

Đại biểu dẫn số liệu xuất khẩu 9 tháng tăng 24,5%, nhập khẩu tăng 36,67%, dẫn đến nhập siêu 19,42 tỷ USD. Trong khi khu vực FDI xuất siêu, doanh nghiệp trong nước lại nhập siêu lớn. Tỷ lệ nội địa hóa ở một số ngành chủ lực mới khoảng 40%.

Theo đại biểu Trần Thị Hồng Thanh, thu hút đầu tư nước ngoài cần gắn với những cam kết và kết quả có thể đo lường về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng Việt Nam và nâng cao giá trị gia tăng trong nước.

Đại biểu cũng đề nghị tháo gỡ trực tiếp những khó khăn về vốn, mặt bằng, tiêu chuẩn và thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và các nhà cung ứng nội địa.

Muốn trở thành nhà cung ứng, doanh nghiệp cần được hỗ trợ gì?

Từ những hạn chế của doanh nghiệp trong nước, đại biểu Phạm Hùng Thắng cho rằng chính sách hỗ trợ cần thay đổi cách tiếp cận, bắt đầu từ yêu cầu thực tế của thị trường và doanh nghiệp mua hàng.

Theo đại biểu, các Nghị quyết số 68, 57 và 10 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân, đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Vấn đề tiếp theo là cụ thể hóa những định hướng này thành kết quả có thể đo đếm.

Số doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng cần tăng lên; năng lực khoa học công nghệ phải được cải thiện; giá trị gia tăng tạo ra phải được giữ lại nhiều hơn trong nước.

Đại biểu nhấn mạnh không nên đo hiệu quả hỗ trợ bằng số lượt tập huấn, số đơn hàng được kết nối hay số dự án được cấp phép. Điều quan trọng là doanh nghiệp sau khi nhận hỗ trợ có trở thành nhà cung ứng với hợp đồng ổn định và nâng cao được giá trị gia tăng hay không.

Để đạt được điều đó, việc hỗ trợ cần bắt đầu từ nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện lựa chọn nhà cung ứng của các doanh nghiệp dẫn dắt, trong đó có doanh nghiệp FDI.

Trên cơ sở đánh giá năng lực thực tế của doanh nghiệp Việt Nam, Nhà nước tập trung hỗ trợ những khâu còn thiếu và yếu như thử nghiệm, chứng nhận chất lượng, cải tiến quy trình, đào tạo kỹ thuật và đổi mới thiết bị.

Theo đại biểu Phạm Hùng Thắng, vai trò của Nhà nước là kết nối và hỗ trợ giảm chi phí để doanh nghiệp trong nước có điều kiện tham gia chuỗi cung ứng. Việc quyết định mua bán vẫn phải do doanh nghiệp lựa chọn, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và phù hợp với các cam kết quốc tế.

Bên cạnh việc đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp đầu chuỗi, năng lực nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ cũng được các đại biểu quan tâm.

Đại biểu Hà Đức Minh (Đoàn Lào Cai) đề nghị quyết liệt đẩy nhanh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó chú trọng đa dạng hóa nguồn lực đầu tư.

Theo đại biểu, cần kết hợp nguồn vốn ngân sách với vốn tư nhân và các quỹ đầu tư mạo hiểm; đồng thời thiết lập cơ chế ưu đãi thuế, tín dụng vượt trội cho doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D).

Một kiến nghị khác của đại biểu là thí điểm cơ chế đặt hàng nghiên cứu, chấp nhận rủi ro trong hoạt động khoa học công nghệ. Cùng với đó, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính thực chất, giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận đất đai, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ở góc độ phân bổ nguồn lực, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh cũng đề cập tình trạng giải ngân ngân sách khoa học công nghệ còn chậm. Theo số liệu đại biểu nêu, trong 9 tháng, tỷ lệ giải ngân mới đạt 37,26%, còn khoảng 24.000 tỷ đồng chưa phân bổ.

Đại biểu đề nghị làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm, rút ngắn thủ tục và tập trung nguồn lực cho những nhiệm vụ công nghệ chiến lược có sản phẩm đầu ra, có khả năng ứng dụng và thương mại hóa.

Theo đại biểu, hiệu quả đầu tư cho khoa học công nghệ cần được đo bằng công nghệ làm chủ được, năng suất tăng thêm, sản phẩm mới và giá trị doanh nghiệp trong nước tạo ra.

Mục tiêu 10.000 nhà cung ứng: Chính sách phải đi vào từng ngành hàng

Để nâng cao vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng, đại biểu Phạm Hùng Thắng đề nghị sớm kết nối các chính sách phát triển doanh nghiệp với nhu cầu thực tiễn và tổ chức thực hiện thống nhất.

Theo đại biểu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các quyết định phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 và Đề án thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài đến năm 2030.

Tại kỳ họp này, Quốc hội cũng đang xem xét những dự án luật liên quan đến đầu tư và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có các quy định hỗ trợ nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tham gia chuỗi cung ứng.

Đại biểu đề nghị Chính phủ tập trung triển khai Nghị quyết số 280 về kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị, gắn với các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia mạng phân phối nước ngoài.

Đáng chú ý, mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó có 500-1.000 nhà cung ứng cấp 1, cần được cụ thể hóa thành các chỉ tiêu hằng năm.

Ngay trong năm 2027, đại biểu Phạm Hùng Thắng đề nghị lựa chọn một số ngành, nhóm sản phẩm có tiềm năng liên kết; xác định doanh nghiệp dẫn dắt, nhu cầu mua hàng và những doanh nghiệp Việt Nam có triển vọng để xây dựng lộ trình hỗ trợ.

Lộ trình này cần giúp doanh nghiệp từng bước đáp ứng yêu cầu của bên mua, tham gia chuỗi cung ứng với vai trò nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2.

Từ thực tiễn phát triển doanh nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long, đại biểu Tạ Minh Tâm (Đoàn Đồng Tháp) cũng đặt vấn đề về vai trò của doanh nghiệp trong tổ chức các chuỗi giá trị.

Theo đại biểu, hoạt động sản xuất, chế biến và thương mại của vùng trải rộng trên nhiều địa phương, trong khi thị trường logistics và các dịch vụ chuyên nghiệp có quan hệ chặt chẽ với TP. Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ. Nhiều vấn đề phát triển doanh nghiệp vì vậy không thể giải quyết đầy đủ trong phạm vi một tỉnh, thành phố.

Đại biểu đề nghị nghiên cứu khung giải pháp phát triển doanh nghiệp mang tính đặc thù cho Đồng bằng sông Cửu Long, phù hợp với đặc điểm kinh tế nông nghiệp, thị trường liên tỉnh và yêu cầu liên kết vùng.

Theo đại biểu Tạ Minh Tâm, doanh nghiệp không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là chủ thể tổ chức chuỗi giá trị, tận dụng hạ tầng và chuyển hóa tài nguyên thành sản phẩm có giá trị cao.

Về yêu cầu nâng cao năng lực doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đại biểu Phạm Hùng Thắng đề nghị Chính phủ giao một cơ quan đầu mối định kỳ theo dõi, tổng hợp và công bố kết quả thực hiện.

Những chỉ tiêu cần được theo dõi gồm số doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng, giá trị hợp đồng, năng suất và kết quả đổi mới công nghệ.

Theo đại biểu, tăng trưởng kinh tế chỉ bền vững khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, tạo ra và giữ lại nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế. Đây cũng cần trở thành một thước đo quan trọng khi đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027.

Quốc Tuấn

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/xuat-khau-tang-manh-vi-sao-doanh-nghiep-viet-van-kho-buoc-sau-vao-chuoi-cung-ung-189961.html