Xuất khẩu thực phẩm: nâng chuẩn từ gốc trước 'bộ khung' mới
Khi các thị trường lớn 'siết' chứng nhận, nhãn mác và truy xuất nguồn gốc, doanh nghiệp thực phẩm Việt buộc phải nâng chuẩn từ gốc. Quản trị dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ pháp lý, chuyển đổi số trở thành chìa khóa mở rộng xuất khẩu và củng cố sức cạnh tranh quốc tế.
Xuất khẩu thực phẩm Việt Nam từng dựa vào lợi thế nguồn nguyên liệu đa dạng, chi phí cạnh tranh và vị thế nông sản tự nhiên. Tuy nhiên, các thị trường trọng điểm như Mỹ, EU, Úc, Trung Quốc và Trung Đông đang tiếp tục nâng cấp tiêu chuẩn nhập khẩu, đòi hỏi doanh nghiệp (DN) phải thích ứng sớm.
Thị trường lớn “siết” nhập khẩu
Đứng ở góc độ thực tiễn của một DN thực phẩm, bà Võ Thị Phi Phượng, Giám đốc CTCP Võ Bảo, nhấn mạnh: Để đưa sản phẩm tiến vào các thị trường tiềm năng như Mỹ, Úc hay Singapore và có mặt tại các hệ thống siêu thị lớn, thì điều quan trọng là chủ động chuẩn bị các bộ hồ sơ pháp lý chuyên biệt như chứng nhận FDA, USDA của Mỹ hay BICON của Úc.

Các DN xuất khẩu thực phẩm cần chuẩn hóa hồ sơ và ứng dụng chuyển đổi số để “vượt ải” khi nhiều thị trường lớn đang đồng loạt “siết” tiêu chuẩn.
Bên cạnh đó, nhãn mác và bao bì cũng là yếu tố quyết định. “Thông tin nhãn mác trên bao bì phải được thiết kế và kiểm duyệt khắt khe để tuân thủ tuyệt đối quy định pháp luật của nước sở tại. Qua đó không chỉ giúp DN mở rộng thị phần mà còn góp phần gia tăng giá trị cho nguồn nông sản bản địa”, bà Phượng nói.
Từ yêu cầu tuân thủ tiêu chuẩn tại các thị trường phát triển như chia sẻ của vị giám đốc nêu trên có thể thấy xu hướng chung là các DN thực phẩm Việt phải thích ứng với những bộ tiêu chuẩn ngày càng khắt khe. Điều này cũng tương tự với các thị trường mới nổi như khối các quốc gia Hồi giáo (thị trường Halal).
Đây được xem là dư địa tăng trưởng đáng chú ý, đặc biệt với các sản phẩm Halal, nhưng theo Thương vụ Việt Nam tại UAE, DN Việt vẫn chưa khai thác hiệu quả.
Để tiếp cận, DN cần đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu bắt buộc, từ chuẩn hóa chứng nhận Halal theo tiêu chuẩn quốc tế, thiết kế bao bì bản địa hóa (song ngữ Anh – Ả Rập) đến đẩy mạnh hiện diện trên các nền tảng thương mại điện tử – kênh đang chiếm hơn 80% giao dịch hàng tiêu dùng Halal tại khu vực.
Và như cảnh báo mới nhất của bà Hồ Thị Quyên, Phó giám đốc ITPC Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Tp.HCM (ITPC): “Hiện chỉ khoảng 0,2% DN Việt có sản phẩm đạt chứng nhận Halal.
Rõ ràng đây là con số quá thấp so với nhu cầu thị trường Halal. Nguyên nhân chủ yếu là DN Việt chưa có chiến lược dài hạn, chưa đồng bộ từ nguyên liệu, sản xuất đến kiểm soát chất lượng.
Với giá trị thị trường toàn cầu vượt mốc 2.000 tỷ USD, Halal không còn là thị trường ngách mà đã trở thành trụ cột của thương mại quốc tế. Để khai thác hiệu quả thị trường này, DN cần có sự chuẩn bị bài bản về tiêu chuẩn, quy trình chứng nhận.
Bà Hồ Thị Quyên, Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Tp.HCM (ITPC)

Có thể nói, yêu cầu về tiêu chuẩn không chỉ dừng lại ở thị trường Halal mà đang trở thành xu hướng chung trên toàn cầu, khi các thị trường lớn đồng loạt nâng “ngưỡng” nhập khẩu. Điều đó đặt DN thực phẩm Việt trước áp lực phải thích ứng toàn diện, từ hồ sơ pháp lý đến quy trình sản xuất.
Diễn biến này thể hiện rõ qua việc nhiều thị trường liên tục cập nhật quy định mới, siết chặt quản lý ngay từ khâu đăng ký DN. Cụ thể, trong thượng tuần tháng 4/2026, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã ban hành hướng dẫn về đăng ký cơ sở sản xuất thực phẩm nhập khẩu theo Lệnh 280 – “Quy định đăng ký cơ sở sản xuất thực phẩm nhập khẩu ở nước ngoài” của Trung Quốc.
Trước đó, phía Trung Quốc đã có những động thái cập nhật đáng chú ý nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng linh hoạt hơn. Theo thông báo hồi tháng 3/2026 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC), các danh mục, danh sách và phạm vi quản lý được áp dụng theo cơ chế cập nhật động, trong đó có danh mục thực phẩm nhập khẩu cần cơ quan có thẩm quyền giới thiệu đăng ký. Cục Xuất nhập khẩu lưu ý các DN phải khai đúng mã số và tuân thủ chặt chẽ thời hạn đăng ký.
Chuẩn hóa từ gốc để “vượt ải”
Không chỉ Trung Quốc, các thị trường lớn khác cũng đồng loạt siết chặt tiêu chuẩn kỹ thuật, đặc biệt tại châu Âu – nơi được xem là “chuẩn cao” của thương mại thực phẩm toàn cầu.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Phượng Vĩ, Trưởng bộ phận Tư vấn Eurofins Sắc Ký Hải Đăng cho biết: Tại EU có Pháp áp dụng nguyên tắc “Zero Tolerance” với dư lượng thuốc bảo vệ thực vật bị cấm, đồng thời triển khai Quy định PPWR yêu cầu đến năm 2030 toàn bộ bao bì phải có khả năng tái chế.
Ở các thị trường khác, xu hướng siết chặt tiêu chuẩn cũng diễn ra rõ nét. Theo bà Phượng Vĩ, tại Mỹ, cơ quan chức năng đang từng bước loại bỏ các chất tạo màu thực phẩm có nguồn gốc dầu mỏ. Trong khi đó, nhiều quốc gia châu Á đã thắt chặt quản lý qua các tiêu chuẩn mới về ghi nhãn; như tại Hàn Quốc đang mở rộng phạm vi ghi nhãn thực phẩm không biến đổi gen (Non-GMO), giảm natri và giảm đường tiếp tục được mở rộng.
Những động thái này cho thấy xu hướng chung của thị trường toàn cầu đang chuyển mạnh từ kiểm tra sản phẩm sang kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị, từ nguyên liệu đến thành phẩm.
Trong xu hướng đó, truy xuất nguồn gốc và chuẩn hóa dữ liệu đang nổi lên như yêu cầu cốt lõi, tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận thị trường của DN. Từ đầu năm 2026, EU đã áp dụng hệ thống CATCH đối với chứng nhận khai thác thủy sản, yêu cầu DN cung cấp dữ liệu đầy đủ, chính xác và có cấu trúc xuyên suốt từ nguyên liệu đến thành phẩm.
Theo Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển, nếu dữ liệu không đồng nhất giữa chứng từ thương mại, hồ sơ nguyên liệu, hồ sơ chế biến và chứng nhận khai thác, nhà nhập khẩu sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện hồ sơ.
Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển khuyến nghị DN thủy sản Việt cần đặc biệt chú trọng chuẩn hóa dữ liệu ngay từ đầu chuỗi cung ứng để hạn chế rủi ro phát sinh. Đối với các sản phẩm thuộc diện phải có chứng nhận khai thác, thông tin về nguyên liệu cần được kiểm soát chặt chẽ từ khâu thu mua, bao gồm loài, khu vực khai thác, ngày khai thác, tàu khai thác, ngư cụ và khối lượng.
Tuy nhiên, việc đáp ứng các yêu cầu như vậy không dễ dàng, nhất là với những DN vẫn quản lý dữ liệu theo phương thức thủ công hoặc bằng các bảng tính rời rạc. Trong môi trường vận hành mới, chỉ cần sai lệch nhỏ giữa chứng từ giấy, nhãn hàng, hồ sơ nội bộ và dữ liệu cung cấp cho nhà nhập khẩu cũng có thể ảnh hưởng đến tính đầy đủ và độ tin cậy của bộ hồ sơ nhập khẩu.
Ngược lại, những DN đồng bộ hóa quản trị thông tin, chuẩn hóa hồ sơ và ứng dụng chuyển đổi số sẽ giành lợi thế cạnh tranh, giảm rủi ro và nâng cao giá trị thực phẩm Việt.
Thị trường thực phẩm toàn cầu đang yêu cầu minh bạch, chuẩn hóa và truy xuất thông tin. DN Việt không thể chỉ dựa vào chi phí thấp hay chất lượng sản phẩm. Lợi thế sẽ thuộc về những DN nào tuân thủ tiêu chuẩn nghiêm ngặt, quản trị thông tin hiệu quả và chủ động chuyển đổi số.
Trong “bộ khung”mới này, luật chơi đã thay đổi: ai nắm vững thông tin, chuẩn hóa quy trình và nâng chuẩn từ gốc, người đó sẽ “vượt ải”, đi xa trên thị trường quốc tế.











