Xuất nhập khẩu Việt Nam - Campuchia duy trì tăng trưởng đạt gần 7,8 tỷ USD
Lực đẩy từ nhóm hàng nông sản và công nghiệp chế biến đã đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Campuchia đạt gần 7,8 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, duy trì đà tăng trưởng ổn định cho bức tranh thương mại song phương.

Theo báo cáo thống kê do Cục Hải quan công bố ngày 10/8, tính chung 7 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Campuchia đạt hơn 7,79 tỷ USD, tăng 10,39% (tương đương 733,5 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước. Với kim ngạch xuất khẩu đạt 3,75 tỷ USD và nhập khẩu 4,03 tỷ USD, Việt Nam ghi nhận mức nhập siêu khoảng 282,6 triệu USD từ thị trường này.
Xuất khẩu bứt phá nhờ nhóm nông sản và công nghiệp
Tính đến hết tháng 7/2026, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Campuchia đạt hơn 3,75 tỷ USD. So với mức hơn 3,27 tỷ USD ghi nhận cùng kỳ năm 2025, quy mô xuất khẩu đã tăng trưởng 14,76%, tương đương mức tăng hơn 482,8 triệu USD.
Hàng dệt may tiếp tục dẫn đầu về quy mô xuất khẩu với kim ngạch đạt hơn 569,6 triệu USD, tăng 6,84%. Nhóm nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày cũng đóng góp hơn 274 triệu USD, tương ứng mức tăng 17,85%. Bên cạnh đó, sắt thép các loại đạt giá trị xuất khẩu hơn 539,3 triệu USD, tăng 6,25%. Đặc biệt, nhóm hóa chất và sản phẩm hóa chất ghi nhận đà tăng trưởng mạnh mẽ, lần lượt đạt tỷ lệ 83,63% và 47,70%, tương ứng với kim ngạch 53,17 triệu USD và 103,93 triệu USD.
Trong khi đó, xuất khẩu các mặt hàng nông sản lại có sự phân hóa. Điểm sáng lớn nhất thuộc về mặt hàng rau quả khi kim ngạch xuất khẩu đạt gần 41,6 triệu USD, tăng vọt 149,36% so với cùng kỳ năm ngoái. Tương tự, xuất khẩu cà phê cũng bứt phá với mức tăng 139,80%, kim ngạch xấp xỉ 23,7 triệu USD.
Trái ngược với đà tăng này, kim ngạch xuất khẩu gạo lại sụt giảm sâu 67,56%, lùi về mức 5,5 triệu USD. Mặt hàng thủy sản cũng ghi nhận mức giảm 42,08%, xuống còn gần 12 triệu USD từ mức 20,7 triệu USD trong cùng kỳ năm trước.
Thị trường cũng chứng kiến sự thu hẹp đáng kể của một số nhóm hàng như kim loại thường khác và sản phẩm giảm 70,15% xuống 23,53 triệu USD; clanhke và xi măng giảm 37,76% xuống 1,92 triệu USD; cùng với xăng dầu các loại giảm 18,79% xuồng còn 77,54 triệu USD.
Ở chiều hướng tích cực, nhóm thức ăn gia súc và phương tiện vận tải, phụ tùng vẫn duy trì đà tăng trưởng, đóng góp quan trọng vào tổng thể kim ngạch xuất khẩu.
Hạt điều và nguyên phụ liệu dẫn dắt đà tăng trưởng nhập khẩu
Ở chiều nhập khẩu, lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ thị trường Campuchia vượt mốc 4 tỷ USD, tăng 6,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu hàng hóa, nhóm nguyên liệu nông sản tiếp tục đóng vai trò lực đẩy chính.
Hạt điều là nhóm hàng chiếm tỷ trọng áp đảo và đóng góp lớn nhất vào mức tăng chung. Trị giá nhập khẩu mặt hàng này đạt hơn 1,73 tỷ USD, tăng 24,91% (tương ứng tăng gần 346 triệu USD) so với cùng kỳ năm ngoái. Dù vậy, một mặt hàng nông - lâm sản chủ lực khác là cao su lại chứng kiến sự sụt giảm mạnh, lùi về mức 445,5 triệu USD, tương ứng mức giảm 12,52%.
Đối với nhóm nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất công nghiệp, nhiều mặt hàng ghi nhận mức tăng trưởng đột biến bằng lần. Đặc biệt là phế liệu sắt thép với kim ngạch đạt hơn 15,2 triệu USD, tăng vọt 447,52%. Nguyên phụ liệu thuốc lá cũng tăng 175,01%, đạt xấp xỉ 18,6 triệu USD. Nhóm quặng và khoáng sản khác duy trì đà tăng 38,66%, với kim ngạch hơn 51,1 triệu USD. Tương tự, nhóm vải các loại tăng 31,11%, đạt hơn 13,4 triệu USD.
Ở nhóm nông - thủy sản phụ trợ, dòng chảy hàng hóa từ Campuchia sang Việt Nam tiếp tục được mở rộng. Đặc biệt, lượng thủy sản nhập khẩu tăng vọt gấp hơn 10 lần so với cùng kỳ, từ hơn 60.000 USD lên hơn 670.000 USD. Hoạt động thu mua các mặt hàng như rau quả và đậu tương cũng ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt là 36,07% và 23,73%, tương ứng với kim ngạch 46 triệu USD và 3,53 triệu USD. Ngoài ra, rổ hàng hóa nhập khẩu năm nay ghi nhận thêm mặt hàng ngô với kim ngạch gần 1,3 triệu USD.
Bên cạnh các mặt hàng duy trì đà tăng, hoạt động nhập khẩu một số nhóm vật tư, nguyên liệu từ Campuchia lại kém sôi động hơn so với cùng kỳ. Nhóm nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày với kim ngạch giảm nhẹ 1,22%, đạt 49,8 triệu USD; cùng với nhóm kim loại thường khác sụt giảm sâu trên 57%, lùi về mức 5,4 triệu USD.












