Xứng danh 'Đệ nhất danh trà' (Kỳ 2 - Văn hóa trà tạo nên giá trị cây chè)

Kỳ 2: Văn hóa trà tạo nên giá trị cây chè

Trong những năm gần đây, chè thực sự trở thành một sản phẩm mang giá trị kinh tế, văn hóa và tinh thần của người dân tỉnh Thái Nguyên. Đằng sau mỗi chén trà là câu chuyện về một vùng đất, con người, tập quán và nghệ thuật thưởng trà. Văn hóa trà đã nâng tầm sản phẩm chè vượt qua giá trị của một nông sản thông thường, trở thành một phần ký ức và bản sắc của cộng đồng các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.

Cây chè tạo việc làm, thu nhập và sinh kế ổn định cho nhiều hộ dân, nhất là lao động ở khu vực nông thôn, miền núi của Thái Nguyên.

Cây chè tạo việc làm, thu nhập và sinh kế ổn định cho nhiều hộ dân, nhất là lao động ở khu vực nông thôn, miền núi của Thái Nguyên.

Trong chén trà có hồn đất, tình người

 “Nhân sinh tựa trà, cuộc sống tựa nước. Nước có thể biến trà từ đắng thành ngọt, nhân sinh không trải qua bể khổ làm sao có thể hưởng ngọt ngào”. Bên ấm trà, nghệ nhân Lê Quang Nghìn, xóm Hồng Thái, xã Tân Cương bắt đầu câu chuyện với chúng tôi bằng lời đúc kết của cha ông.

Thói quen uống trà được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Ở mỗi quốc gia, trà không chỉ hiện diện như một thức uống, mà còn gắn với cách ứng xử, lối sống và quan niệm về con người. Văn hóa của mỗi dân tộc vì thế có ảnh hưởng trực tiếp đến cách trồng, chế biến, thưởng thức và định giá sản phẩm chè.

Ở vị trí cửa ngõ từ thủ đô Hà Nội lên các tỉnh vùng Đông Bắc, Thái Nguyên trở thành nơi hội tụ, giao lưu văn hóa giữa miền xuôi và miền ngược. Vì thế, trong chén trà có câu chuyện của núi rừng Việt Bắc, có dấu ấn của vùng đất thủ đô gió ngàn, có tập quán của đồng bào các vùng miền. Trong chén trà Thái Nguyên còn có câu chuyện tình yêu lứa đôi gắn với hồ Núi Cốc, câu chuyện về người đàn bà có tấm lòng bồ tát đã cứu sống dân làng trong cơn đại hồng thủy gắn với hồ Ba Bể.

Học sinh trải nghiệm thực tế, tìm hiểu về cây chè và văn hóa trà tại vùng chè Thái Nguyên.

Học sinh trải nghiệm thực tế, tìm hiểu về cây chè và văn hóa trà tại vùng chè Thái Nguyên.

Hai hồ nước lớn giữa núi rừng Thái Nguyên, hồ Núi Cốc là biểu tượng của khát vọng tình yêu thủy chung, hồ Ba Bể gợi nhắc câu chuyện về tình người sâu nặng. Nước từ những hồ ấy thấm vào mạch đất, để dưới bao la mây trời, cây chè chắt gạn tinh túy từ đất, kết hợp với khí trời trong lành, hiến dâng cho con người thứ trà khi tra vào ấm có vị cốm thơm của lúa nếp mùa tháng Mười, rót ra chén mang màu xanh sóng sánh của ngọc lam. Đặt chớm môi, người thưởng trà cảm nhận vị chát, đắng theo đầu lưỡi vào huyết quản, rồi dư vị ngọt ngào lan tỏa trở ra.

Nghệ nhân trà Mông Đông Vũ, chủ nhân của hàng trăm bộ ấm trà thuộc nhiều niên đại khác nhau, nói tâm đắc: Cái hay của trà nằm ở sự chuyển biến về chất. Vị chát không phải điểm kết thúc, mà mở đường cho vị ngọt. Người thưởng trà càng nhẩn nha, càng cảm nhận rõ hương, sắc và vị của chén trà. Đó là một nét đẹp văn hóa ẩm thực trà.

Cũng bởi thứ trà thơm ngon thuộc diện “đệ nhất” cả nước, người Thái Nguyên luôn tự hào về cây chè quê hương. Dù đi tới chân trời, góc bể, người Thái Nguyên thường mang theo ấm trà để đãi đằng bạn tứ phương. Trong những cuộc gặp gỡ, chén trà thường xuất hiện trước cả câu chuyện. Khi nước vừa rót, người ta dễ mở lòng hơn. Một câu chuyện quê hương có thể bắt đầu từ hương trà, một kỷ niệm đẹp đời người cũng có thể sẻ chia khi vị chát đắng bắt đầu chuyển dần sang hậu ngọt.

Trải bao phen “vật đổi sao dời”, người Thái Nguyên vẫn gắn bó với cây chè như bầu bạn tri âm, tri kỷ. Cả những lúc kinh tế khó khăn, cư dân vùng chè vẫn bươn bả trong mưa nắng. Vạt áo lau vội giọt mồ hôi, môi vội cười để giấu vào trong nỗi niềm cơm áo. Bởi người dân vùng chè đều hiểu sâu sắc rằng, cây chè không đơn thuần là thức uống, mà chất chứa trong đó một nét đẹp văn hóa, tinh hoa dân tộc. Những giá trị ấy có thể chưa diễn tả được thành lời, nhưng cách uống trà đã trở thành một nghi lễ văn hóa nhẹ nhàng trong gia đình và xã hội.

Du khách tìm hiểu quy trình sản xuất chè tại Hợp tác xã Chè La Bằng, xã La Bằng.

Du khách tìm hiểu quy trình sản xuất chè tại Hợp tác xã Chè La Bằng, xã La Bằng.

Ông Hoàng Vĩnh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam, chia sẻ: Cách pha trà, cách mời trà, cách nhận chén trà và cách trò chuyện bên ấm trà đều thể hiện phép ứng xử. Bởi thế, trà trở thành một phương tiện để con người biểu đạt sự tôn trọng, hiếu khách và tình cảm dành cho nhau. Trong Trà đạo Việt, chữ Đạo được hiểu là con đường, là phong cách uống trà của người Việt. Đạo trà Việt Nam thể hiện lòng mến khách, mến chủ của người Việt.

Trong đời sống thường nhật, chén trà là đầu câu chuyện, là sự khởi đầu cho những cuộc giao kèo, ước hẹn, là cái cớ để người ta gần gũi nhau hơn. Vậy nên, cả một dòng chảy lịch sử của vùng đất nửa đồng, nửa núi Thái Nguyên còn đọng lại trong chén trà sóng sánh xanh. Ngay tại Không gian văn hóa Trà Tân Cương hiện đang lưu giữ những bộ ấm, chén, bình trà có niên đại hàng trăm năm, với đường nét hoa văn tinh xảo. Nhìn vào đó có thể thấy, từ hàng trăm năm trước, uống trà đã là một nghệ thuật văn hóa.

Nông sản chè và giá trị văn hóa

Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, những chính sách mở cửa, phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa đã tạo điều kiện để cây chè phát huy giá trị kinh tế. Từ những năm 1990, cây chè ngày càng được quan tâm đầu tư. Nhiều diện tích đất đồi hoang hóa, đất trồng cây có hiệu quả thấp được chuyển đổi sang trồng chè.

Bà Trần Thị Tuyết, Giám đốc HTX Tuyết Hương, xóm Na Long, xã Đồng Hỷ, cho biết: Tại Thái Nguyên, cây chè đã khẳng định được vị trí quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Những đồi chè phủ xanh một vùng đất đã mang lại việc làm, thu nhập ổn định cho hàng nghìn lao động. Nhưng giá trị của cây chè không dừng ở sản lượng hay giá bán. Điều làm nên sức sống lâu dài của sản phẩm chè chính là những giá trị văn hóa được tích lũy, trao truyền qua nhiều đời.

Chợ chè, một nét văn hóa gắn bó với đời sống và nghề chè của người dân Thái Nguyên.

Chợ chè, một nét văn hóa gắn bó với đời sống và nghề chè của người dân Thái Nguyên.

Ở đất Thái Nguyên, trồng chè có thể giúp người nông dân giảm nghèo bền vững, nhiều người làm giàu. Bởi chè là một thức uống quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của nhiều quốc gia trên thế giới. Cũng vì thế mà qua hàng trăm năm, cho dù xã hội có nhiều biến chuyển, trong trà vẫn bao chứa nét văn hóa tinh hoa. Sử sách còn ghi, thời nhà Nguyễn, các hoàng đế cho cung nữ chèo thuyền trên hồ sen, hứng từng giọt nước trời đọng lại trên lá để đun nước pha trà.

Các vị hoàng đế nhà Nguyễn đã đưa văn hóa trà Việt Nam đạt đỉnh tinh hoa văn hóa ẩm thực trà. Sau này, người trồng chè ở Thái Nguyên cũng như trên cả nước còn ướp chè với hoa sen, hoa ngâu, hoa nhài… gọi là chè sen, chè ngâu, chè nhài. Chè được ướp với hoa gì thì tên sản phẩm chè gắn với loại hoa đó. Nhưng vẫn chung một ý tưởng là đưa sản vật của thiên nhiên vào chén trà và nâng giá trị của cây chè bằng bàn tay, sự tinh tế của con người. Đó cũng là quá trình biến đổi một sản phẩm nông nghiệp thành sản phẩm văn hóa.

Chén trà góp phần gắn kết những cuộc gặp gỡ, giao tiếp hằng ngày.

Chén trà góp phần gắn kết những cuộc gặp gỡ, giao tiếp hằng ngày.

Chuyện về chè và trà, ông Trịnh Quang Dũng, nhà nghiên cứu văn hóa, Phó Ban Bảo tồn phát triển Hiệp hội Văn hóa ẩm thực Việt Nam, chia sẻ: Văn hóa trà là thứ không dễ cân đong, đo đếm. Nó hiện diện trong những điều bình dị, được trao truyền qua nhiều thế hệ và âm thầm tạo nên giá trị cho sản phẩm. Khi sản phẩm chè được đặt trong không gian văn hóa, giá trị ấy được mở rộng hơn rất nhiều. Bởi trong mỗi chén trà được gói ghém một vùng đất, tình người và dòng chảy lịch sử địa phương.

Văn hóa trà vì thế có thể xem là giá trị “vô hình”, nhưng lại hiện diện trong đời sống hằng ngày. Một gia đình có việc hiếu, hỷ đều cần có ấm trà làm đầu câu chuyện. Chén trà vừa rót ra cũng là lúc lời được mở dễ dàng. Văn hóa hiện diện ngay trong chén trà, thể hiện rõ cách ứng xử của người mời trà và người thưởng trà. Văn hóa trà là giá trị phi vật thể, một nét đẹp đạt tới chiều sâu của văn hóa.

Ông Nguyễn Xuân Thủy, hộ trồng chè giỏi ở xóm Đông Thắng, xã Dân Tiến nói với chúng tôi: Giữa những bộn bề, vài phút bên ấm trà tạo ra khoảng lặng để con người lắng nghe nhau. Có những cuộc trò chuyện tưởng như khó bắt đầu, đôi khi lại được hóa giải bằng chén trà ấm nóng… Chính đặc tính ấy khiến văn hóa trà trở thành một dạng giá trị đặc biệt. Đó là giá trị ở khả năng kết nối, qua đó làm tăng giá trị thương mại cho cây chè và tạo ra bản sắc cho sản phẩm.

Để nâng cao giá trị cây chè, cùng với việc quan tâm nâng cao năng suất, chất lượng và thương hiệu, người trồng chè Thái Nguyên luôn coi trọng gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa đã làm nên danh tiếng “đệ nhất danh trà”. Cây chè có thể được trồng ở nhiều nơi, nhưng không phải vùng chè nào cũng tạo dựng được một câu chuyện văn hóa đủ sức sống. Câu chuyện ấy mang hương, vị một vùng chè lan tỏa, bay xa, để mỗi chén trà không chỉ là sản phẩm của đất đai và bàn tay lao động, mà còn là nơi lưu giữ ký ức, văn hóa và tình người của xứ Trà.

(Còn nữa)

Phạm Ngọc Chuẩn

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/xung-danh-de-nhat-danh-tra-ky-2-van-hoa-tra-tao-nen-gia-tri-cay-che-2x0e7k8p