Xung đột Mỹ - Iran đã thay đổi nền kinh tế toàn cầu ra sao?
Cuộc xung đột giữa Mỹ và Iran đã tạo ra những tác động lâu dài, làm thay đổi cách thức vận hành của nền kinh tế thế giới và hoạt động kinh doanh toàn cầu.
Hầu hết người dân Mỹ đều nhận thấy rõ các tác động của cuộc xung đột với Iran như giá xăng dầu duy trì ở mức hơn 4 USD/gallon trong nhiều tuần, lãi suất vay thế chấp đang tăng dần về mốc 7% và các doanh nghiệp phải áp thêm phụ phí vận chuyển để bù đắp chi phí dầu diesel cao kỷ lục.

Các phương tiện xếp hàng chờ đổ xăng tại một trạm xăng của Costco ở Wilmington, bang Bắc Carolina, Mỹ. Ảnh: Bloomberg
Tình trạng chi phí sinh hoạt tăng cao này đã kéo dài hơn so với dự báo của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump, mặc dù xu hướng này có thể sẽ đảo chiều nếu Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn. Tuy nhiên, những thay đổi khác về mặt kinh tế đối với thế giới sẽ không dễ dàng đảo ngược.
Iran kiểm soát eo biển Hormuz
Trước khi xung đột nổ ra, tàu thuyền mang cờ của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tự do đi qua eo biển Hormuz để vận chuyển hàng hóa ra vào khu vực Trung Đông. Mỗi ngày, có tới 1/5 lượng dầu mỏ của thế giới đi qua tuyến đường biển hẹp nhưng có ý nghĩa chiến lược này.
Quan điểm về việc ai nắm quyền kiểm soát Hormuz đã thay đổi hoàn toàn sau khi Mỹ và Israel phát động tấn công Iran vào cuối tháng 2. Iran tuyên bố quyền kiểm soát eo biển và tập kích các tàu thuyền cố gắng ra vào Vịnh Ba Tư. Việc đóng cửa eo biển đã mang lại cho Iran lợi thế kinh tế trước Mỹ và các đồng minh Vùng Vịnh, đồng thời cắt đứt nguồn cung 13 triệu thùng dầu cho nền kinh tế toàn cầu.
Tehran đã thay đổi chiến thuật đối với eo biển này vào tháng 5. Thay vì cố gắng đóng cửa hoàn toàn, họ bắt đầu kiểm soát việc sử dụng tuyến đường biển huyết mạch. Tehran thành lập Cơ quan Quản lý eo biển Vịnh Ba Tư và yêu cầu các tàu thuyền đi qua phải đăng ký với cơ quan này, tuân thủ lộ trình hàng hải được cấp phép và nộp phí qua lại.
Sau khi ký Biên bản ghi nhớ (MOU) với Mỹ vào tháng 6, Iran đồng ý tạm dừng thu phí trong 60 ngày, nhưng vẫn tiếp tục tấn công các tàu thuyền không đăng ký với cơ quan quản lý của họ. Khi MOU bị xé bỏ trong thực tế, quân đội Mỹ bắt đầu điều phối và hộ tống các chuyến tàu đi qua eo biển Hormuz vào ban đêm, ở chế độ "tắt tín hiệu" nhằm tăng cường xuất khẩu dầu mỏ từ Vịnh Ba Tư và tránh các vụ tấn công bằng máy bay không người lái (UAV) của Iran.
Theo đài CNN, nỗ lực này đang phát huy hiệu quả, nhưng việc phải triển khai một chiến dịch quy mô lớn, tốn kém và đầy áp lực như vậy đã chứng minh tầm ảnh hưởng to lớn Iran tạo ra đối với eo biển Hormuz.

Các tàu thương mại đang neo đậu ở eo biển Hormuz, ngoài khơi vùng Bandar Abbas của Iran. Ảnh: ISNA
“Nhiều khả năng Iran sẽ bước ra khỏi cuộc xung đột với vị thế mạnh hơn trong việc kiểm soát eo biển và điều đó sẽ buộc các quốc gia phụ thuộc vào dầu thô Trung Đông phải thích nghi”, chuyên gia chiến lược đầu tư Ross Mayfield thuộc công ty tư vấn tài chính Baird nhận định.
Giới quan sát tin giải pháp cuối cùng cho cuộc đối đầu có thể bao gồm một thỏa thuận cho phép Iran thu phí để đảm bảo tàu thuyền qua lại an toàn tại Hormuz. Một số ý kiến lo ngại điều đó sẽ tạo tiền lệ cho các quốc gia khác thu phí tàu thuyền khi đi qua các tuyến đường thủy quốc tế.
Theo Natasha Kaneva, trưởng bộ phận phân tích hàng hóa tại hãng dịch vụ tài chính JPMorgan, tiền lệ như vậy đã tồn tại. Dù không ủng hộ thu phí quá cảnh nhưng Liên Hợp Quốc cho phép các quốc gia thu phí dịch vụ như đảm bảo an toàn hàng hải, quản lý giao thông, hộ tống an ninh, ứng phó khẩn cấp và bảo vệ môi trường. Bà Kaneva chỉ ra rằng Thổ Nhĩ Kỳ, Đan Mạch, Thụy Điển, Nga và Indonesia đều đang thu phí dịch vụ đối với tàu thuyền qua lại các eo biển khác nhau.
Theo bà Kaneva, giá dầu mỏ có thể tăng khoảng 1 USD/gallon nếu Iran áp dụng cơ cấu phí tương tự như cách Thổ Nhĩ Kỳ thu phí tại các eo biển của nước này. Một siêu tàu chở dầu thô có thể phải trả khoảng 260.000 USD cho một chuyến đi khứ hồi qua eo biển.
Trung Quốc củng cố vai trò cường quốc trên thị trường dầu mỏ
Dù không sản xuất nhiều dầu mỏ nhưng Trung Quốc đã chứng tỏ họ là thế lực mạnh nhất trên thị trường năng lượng trong thời gian diễn ra xung đột. Lý do vì Trung Quốc đã thể hiện khả năng đặc biệt trong việc điều tiết nhu cầu của mình.
Việc phụ thuộc nhiều vào kho dự trữ dầu khổng lồ được tích lũy trước xung đột giúp Trung Quốc cắt giảm mạnh lượng dầu thô nhập khẩu, với mức giảm khoảng 5 triệu thùng/ngày. Song, đến thời điểm nào đó, nước này sẽ cần bổ sung lại kho dự trữ và nhu cầu sẽ tăng trở lại.

Robot sạc di động cho xe điện tại một trạm sạc và thay pin ở Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Ảnh: VCG
Tuy nhiên, một số thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng Trung Quốc có thể trở thành xu hướng lâu dài. Ví dụ, theo số liệu của Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc, trong kỳ nghỉ Quốc tế Lao động (1/5) kéo dài 5 ngày, nhu cầu sạc xe điện trên các tuyến cao tốc của nước này đã tăng 55,6% so với năm trước. Trong suốt kỳ nghỉ, gần 1/4 số xe lưu thông trên cao tốc là xe điện, tăng 33% so với cùng kỳ năm ngoái. Trung Quốc cũng nhanh chóng chuyển đổi từ các nhà máy điện chạy bằng dầu và khí đốt sang sử dụng than, qua đó thể hiện khả năng thích ứng vượt trội trước cú sốc năng lượng chưa từng có tiền lệ.
Ngoài ra, nhu cầu dầu mỏ toàn cầu đã sụt giảm mạnh trong thời gian xảy ra xung đột, vượt xa dự báo của các chuyên gia phân tích trong ngành và cho thấy thế giới có khả năng linh hoạt trong việc sử dụng dầu mỏ cao hơn nhiều so với những nhận định trước đây.
Theo JPMorgan, trong số 1,9 tỷ thùng dầu thô từ Trung Đông biến mất khỏi thị trường giữa xung đột, có 800 triệu thùng, tức chưa đến một nửa đã được bù đắp nhờ việc người dân và doanh nghiệp cắt giảm tiêu thụ.
Hiện chưa rõ mức độ linh hoạt này mang tính dài hạn hay chỉ là tạm thời. Tuy nhiên, sự sụt giảm vĩnh viễn trong nhu cầu sử dụng dầu mỏ, ngay cả khi chỉ tính riêng Trung Quốc, cũng có thể làm giảm nhu cầu đến mức không bao giờ phục hồi hoàn toàn. Có lẽ thế giới đã chạm ngưỡng đỉnh điểm của nhu cầu dầu mỏ.
Sản lượng dầu ngoài khu vực Trung Đông gia tăng
Một sự điều chỉnh đáng kể khác trong thời gian xung đột là sự gia tăng sản lượng dầu từ các nguồn cung bất ngờ. Hoạt động thăm dò và phát triển năng lượng thay thế bên ngoài Trung Đông đang được đẩy mạnh. JPMorgan thống kê Brazil đã bổ sung 800.000 thùng/ngày vào sản lượng dầu thô của mình. Guyana tăng thêm 300.000 thùng/ngày, Canada tăng 200.000 thùng/ngày và Na Uy tăng 150.000 thùng/ngày.

Một nhà máy lọc dầu hoạt động 24 giờ mỗi ngày tại Rio de Janeiro, Brazil. Ảnh: Anadolu
Ngoài ra, Mỹ, nước ban đầu ngần ngại tăng sản lượng vì lo ngại rủi ro từ đợt tăng giá dầu tạm thời, hiện cũng sản xuất nhiều hơn 900.000 thùng/ngày so với cùng kỳ năm ngoái. Phần lớn sản lượng gia tăng của Mỹ đến từ các giàn khoan tư nhân.
Sản lượng của Mỹ có thể giảm nhẹ khi eo biển Hormuz mở cửa hoàn toàn trở lại. Song, JPMorgan dự báo Mỹ sẽ vẫn duy trì sản lượng ở mức gần như hiện tại.
Ngoài ra, để ứng phó với tình trạng gián đoạn giao thông qua eo biển Hormuz, các nhà sản xuất tại Trung Đông đang thay đổi phương thức vận chuyển dầu thô và phát triển các tuyến đường thay thế. Ảrập Xêút đã huy động các đoàn xe tải quy mô lớn để đưa hàng hóa xuyên qua nội địa tới Biển Đỏ, đồng thời khai thác tối đa công suất đường ống dẫn dầu Đông - Tây để tránh đi qua Hormuz. Iraq đang đàm phán với tập đoàn năng lượng đa quốc gia lớn nhất thế giới Chevron về việc xây dựng một đường ống dẫn dầu ra Địa Trung Hải.
Cùng lúc đó, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đang phải vật lộn để duy trì sự tồn tại sau khi Các tiểu vương quốc Ảrập thống nhất (UAE) tuyên bố rời khỏi tổ chức này từ ngày 1/5.
Iraq, nước sản xuất dầu lớn thứ 2 trong OPEC, được cho là cái tên tiếp theo có khả năng sẽ rời đi. Bộ trưởng Dầu mỏ Iraq đã chia sẻ với hãng tin Bloomberg rằng nước này sẽ phải cân nhắc việc có tiếp tục ở lại OPEC hay không nếu các hạn ngạch sản xuất không được tăng mạnh. Theo Bloomberg, Iraq mong muốn được nâng sản lượng lên mức kỷ lục 5 triệu thùng/ngày sau giai đoạn xung đột, với mục tiêu dài hạn là đạt mức 7 triệu thùng/ngày.
Động thái như vậy có thể buộc Ảrập Xêút phải cho phép các nước khác sản xuất lượng dầu mỏ vượt quá nhu cầu toàn cầu. Điều này có thể mang lại lợi ích cho người tiêu dùng nhờ giá cả giảm xuống, nhưng cũng có nguy cơ tạo ra tình trạng dư thừa dầu mỏ kéo dài, làm sụt giảm mạnh lợi nhuận từ dầu khí.



