Xung đột tại Trung Đông: Cái giá quá đắt cho môi trường
Trong bài viết đăng tải mới đây, báo Liberation của Pháp cho rằng cuộc xung đột tại Trung Đông đang gây ô nhiễm nghiêm trọng không khí, nước, đất và làm suy giảm đa dạng sinh học phong phú của khu vực này. Các cuộc giao tranh đã phát thải lượng khí nhà kính khổng lồ, làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng khí hậu.

Những tòa nhà bị phá hủy sau các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Tehran, Iran. Ảnh: THX/TTXVN
Phóng viên TTXVN tại Paris dẫn bài viết nêu rõ các cuộc không kích quy mô lớn do Mỹ và Israel tiến hành tại Iran, cũng như các hành động đáp trả của Tehran nhằm vào các mục tiêu tại nhiều quốc gia vùng Vịnh, không chỉ gây thảm họa nhân đạo và khủng hoảng năng lượng quy mô lớn, mà còn gây ra cả thảm họa sinh thái do lượng lớn khói độc thải ra, tràn dầu, ô nhiễm nước và đất… Theo tính toán của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), cuộc chiến tại Trung Đông có nguy cơ “làm gia tăng áp lực lên các tài nguyên thiên nhiên, gây tổn hại các hệ sinh thái biển và trên cạn, làm suy yếu các nỗ lực tăng cường khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến an toàn vệ sinh thực phẩm”.
Đài quan sát xung đột và môi trường (CEOBS) - một tổ chức phi chính phủ của Anh có uy tín trong lĩnh vực này - cũng cho biết đã ghi nhận khoảng 300 sự cố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường kể từ khi xung đột bắt đầu ngày 28/2. Chủ tịch CEOBS, Doug Weir, nhận định nguồn gây ô nhiễm lớn nhất đối với không khí, đất và nước là các địa điểm lưu trữ và xử lý dầu mỏ, một trong các mục tiêu tấn công của các bên tham chiến. Theo chuyên gia Mathilde Jourde phụ trách Chương trình khí hậu, môi trường và an ninh tại Viện Quan hệ quốc tế và Chiến lược của Pháp (IRIS), việc phá hủy các cơ sở này gây ra các đám cháy, thải ra lượng lớn CO2 và bụi, đồng thời giải phóng nhiều chất độc hại như lưu huỳnh dioxide và oxit nitơ, đặc biệt nguy hiểm cho đường hô hấp. CEOBS cho rằng tro bụi cùng với các hạt benzen, formaldehyde và các chất gây ung thư thải ra từ các đám cháy không chỉ gây ảnh hưởng trong khu vực mà còn lan tới Afghanistan, Trung Quốc và Nga.
Bên cạnh đó, việc phá hủy các cơ sở quân sự như căn cứ không quân, bãi phóng tên lửa… cũng phát tán dư lượng thuốc nổ và kim loại nặng, vốn rất độc hại ngay cả với lượng rất nhỏ, bên cạnh các chất nguy cơ khác như perfluoroalkyl và polyfluoroalkyl (PFAS), nhóm hóa chất thuộc diện “vĩnh cửu” vì hầu như không bị phân hủy trong môi trường. CEOBS nhấn mạnh Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ đã xếp chất nổ TNT - được sử dụng trong đạn dược - vào nhóm có thể gây ung thư khi tích tụ trong đất, gây hại cho thảm thực vật và sức khỏe con người. Chuyên gia Mathilde Jourde nêu rõ việc tên lửa bay xuyên qua các tầng cao của khí quyển cũng gây ô nhiễm không khí, vì tầng bình lưu đặc biệt nhạy cảm và có thể giữ lại các chất gây ô nhiễm do các thiết bị nổ giải phóng.
Trong khi đó, đất đai và nguồn nước đối mặt với rất nhiều rủi ro trong các cuộc xung đột. Theo UNEP, các chất độc hại thải ra từ các cuộc không kích có thể thấm vào đất, xâm nhập vào các tầng nước ngầm và được cây trồng hấp thụ, từ đó dẫn đến ô nhiễm thực phẩm. Kết quả là đất bị mất độ phì nhiêu trong bối cảnh khu vực Trung Đông vốn đã vô cùng khô hạn. Ngoài ra, các kho dầu bị tấn công sẽ dẫn đến ô nhiễm không khí và nguồn nước nếu có dầu tràn.
Một quan ngại khác là việc các bên tham chiến tấn công cả các nhà máy khử mặn vốn là nguồn cung cấp nước chính cho người dân Trung Đông. Hiện ở khu vực này có khoảng 450 nhà máy khử mặn, cung cấp nước dùng cho 100 triệu người tại vùng Vịnh. Tại Kuwait và Qatar, 90% lượng nước sinh hoạt đến từ các cơ sở khử mặn này. Do đó, CEOBS cho rằng việc tấn công các nhà máy khử mặn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, nhất là trong trường hợp rò rỉ các hóa chất được sử dụng cho quy trình khử mặn nước như natri hypochlorite, sắt chloride và axit sulfuric. Chưa kể, việc tấn công các cơ sở này còn dẫn đến tình trạng di dời dân cư, kéo theo những tác động lớn đến môi trường.
Các hệ sinh thái biển xung quanh cũng chịu rủi ro tương tự. Kể từ khi xung đột nổ ra, đã có nhiều sự cố xảy ra với các tàu thuyền tại eo biển Hormuz, nơi vận chuyển gần 20% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu. Việc các tàu chở dầu bị tấn công ở ngoài khơi dễ gây ra tình trạng tràn dầu ở vùng biển chỉ có độ sâu trung bình 50m, bán khép kín và nối với Ấn Độ Dương qua eo biển Hormuz. Với những đặc thù này, quá trình làm mới nước diễn ra rất chậm, thường từ 2 - 5 năm, khiến các chất ô nhiễm khó bị phân tán. Kết quả là đa dạng sinh học phong phú của khu vực - nơi sinh sống của hơn 2.000 loài sinh vật biển, bao gồm quần thể bò biển, cá voi lưng gù, cá mập voi và rùa biển - sẽ bị hủy hoại nghiêm trọng.
Ngoài ra, khoảng 100 loài san hô, rừng ngập mặn và thảm cỏ biển vốn có vai trò thiết yếu cho hệ sinh thái cũng sẽ bị tác động. Các loài chim cũng bị đe dọa, đặc biệt nếu xảy ra nhiều vụ tràn dầu. Cần lưu ý, bán đảo Arập là điểm giao của nhiều tuyến di cư của các loài chim.
Bên cạnh những hậu quả nghiêm trọng nói trên đối với môi trường khu vực Trung Đông, môi trường toàn cầu cũng bị ảnh hưởng từ khí nhà kính phát thải từ các hoạt động quân sự. Để vận hành máy bay, tàu chiến và sản xuất vũ khí, phải có một lượng lớn năng lượng hóa thạch được sử dụng. Nguồn phát thải từ các hoạt động này lớn thứ 4 thế giới, chiếm 5,5% tổng lượng phát thải toàn cầu. Một hệ quả khác là việc thay đổi tuyến đường hàng không và hàng hải theo lịch trình dài hơn, tiêu tốn nhiều nhiên liệu hơn. Một số công ty đã phải chọn đi vòng qua châu Phi, thay vì qua kênh đào Suez. Chưa kể, do gián đoạn nguồn cung năng lượng nên một số quốc gia buộc phải tăng sản lượng dầu, làm tăng thêm lượng khí thải.
Các chuyên gia cho rằng xung đột tại Trung Đông đang gây ra những tác động môi trường rất lớn, làm suy yếu lâu dài một khu vực vốn đã chịu áp lực nặng nề từ biến đổi khí hậu. Việc phục hồi môi trường thường không được ưu tiên sau xung đột, khiến hậu quả càng kéo dài nhiều năm. Trong khi đó, giá năng lượng tăng cao gây thêm áp lực lên kinh tế và có thể làm chậm các chính sách khí hậu.











