Yết hầu năng lượng toàn cầu bị bóp nghẹt và mối nguy toàn thế giới

'Không có giải pháp thay thế thực sự trong ngắn hạn', chuyên gia cảnh báo doanh nghiệp sẽ phải đối mặt chi phí năng lượng tăng cao và nguy cơ gián đoạn nguồn cung khi chiến sự ở Trung Đông tiếp diễn.

Việc Iran tuyên bố đóng cửa eo biển Hormuz sau các cuộc không kích của Mỹ và Israel đẩy thị trường năng lượng toàn cầu vào trạng thái căng thẳng mới. Chỉ trong vài ngày, lưu lượng tàu qua tuyến đường chiến lược này giảm mạnh, nhiều tàu chở dầu buộc phải neo lại trong Vịnh Ba Tư, còn các hãng vận tải và công ty bảo hiểm bắt đầu rút khỏi khu vực vì rủi ro an ninh gia tăng.

Trong bối cảnh phần lớn dầu và khí đốt đi qua Hormuz được vận chuyển tới châu Á, giới phân tích cảnh báo khu vực này có thể trở thành nơi chịu tác động kinh tế nặng nề nhất nếu sự gián đoạn kéo dài.

Toàn cảnh trên không cảng Fujairah, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, tại eo biển Hormuz, ngày 10/12/2023. (Ảnh: Reuters/Stringer)

Toàn cảnh trên không cảng Fujairah, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, tại eo biển Hormuz, ngày 10/12/2023. (Ảnh: Reuters/Stringer)

“Yết hầu” của thương mại năng lượng toàn cầu

Eo biển Hormuz nằm giữa Iran và Oman, là tuyến đường biển duy nhất nối Vịnh Ba Tư với Vịnh Oman và Ấn Độ Dương. Trong nhiều thập kỷ, đây được coi là “yết hầu” của thị trường năng lượng toàn cầu bởi phần lớn dầu mỏ xuất khẩu từ các quốc gia vùng Vịnh – bao gồm Ả Rập Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Iraq, Kuwait và Qatar – đều phải đi qua khu vực này trước khi tới các thị trường tiêu thụ.

Theo dữ liệu của công ty tư vấn năng lượng Kpler, khoảng 13 triệu thùng dầu đi qua eo biển Hormuz mỗi ngày trong năm 2025, tương đương khoảng 31% tổng lượng dầu thô vận chuyển bằng đường biển trên toàn thế giới.

Bên cạnh dầu thô, tuyến đường này cũng là huyết mạch của thị trường khí đốt hóa lỏng (LNG), khi khoảng 20% lượng LNG toàn cầu, phần lớn xuất khẩu từ Qatar, phải đi qua Hormuz để đến với khách hàng ở châu Á và châu Âu.

Vị trí eo biển Hormuz giữa các đòn tấn công qua lại của Israel và Mỹ vào Iran. (Nguồn: Reuters)

Vị trí eo biển Hormuz giữa các đòn tấn công qua lại của Israel và Mỹ vào Iran. (Nguồn: Reuters)

Những ngày gần đây, các dấu hiệu tắc nghẽn đã trở nên rõ rệt. Theo công ty phân tích hàng hải Windward, chỉ 7 tàu đi qua eo biển Hormuz trong ngày 2/3, giảm khoảng 60% so với ngày trước đó và thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình khoảng 79 tàu mỗi ngày.

Trong khi đó, ít nhất 150 tàu chở dầu, LNG và các sản phẩm năng lượng khác đã phải neo lại trong Vịnh Ba Tư, tương đương khoảng 4% đội tàu chở dầu toàn cầu tính theo trọng tải, theo Phòng Vận tải biển Quốc tế.

Trả lời phỏng vấn Báo Điện tử VTC News, Tiến sĩ Isaac Kardon, chuyên gia cấp cao về hàng hải và luật biển tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế, cho rằng những gián đoạn hiện nay đã ở mức nghiêm trọng và nhiều khả năng sẽ còn trở nên tồi tệ hơn nếu xung đột kéo dài.

"Các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và tên lửa của Iran nhằm vào tàu thương mại, bao gồm cả tàu chở dầu, đang gia tăng. Nguy cơ thủy lôi có thể gây thêm thương vong và sẽ khiến chi phí bảo hiểm và vận tải tăng mạnh”, ông nhận định.

Theo GS. TS Manochehr Dorraj, chuyên gia về Trung Đông, Giáo sư ngành Quan hệ quốc tế tại Đại học Công giáo Texas (Mỹ), sự phụ thuộc lớn vào năng lượng từ Vịnh Ba Tư khiến nhiều nền kinh tế châu Á đặc biệt dễ bị tổn thương trước bất kỳ gián đoạn nào tại eo biển Hormuz.

Ông cho biết phần lớn các quốc gia trong khu vực, từ Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore cho đến Việt Nam, đều nhập khẩu dầu và khí đốt từ Trung Đông. Ngay cả việc phong tỏa một phần tuyến vận tải này cũng đủ khiến giá dầu và khí đốt trên thị trường quốc tế tăng mạnh.

“Dầu mỏ là chất bôi trơn của nền kinh tế hiện đại. Khi dòng chảy năng lượng bị gián đoạn, các nền kinh tế phụ thuộc nhập khẩu, bao gồm cả những trung tâm sản xuất như Việt Nam, sẽ bị ảnh hưởng”, ông nói.

Theo bà Barbara Weisel, chuyên gia thương mại quốc tế, cựu Trợ lý Đại diện Thương mại Mỹ phụ trách Đông Nam Á và Thái Bình Dương, tác động của khủng hoảng Hormuz có thể lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế khắp châu Á.

“Sự gián đoạn nguồn cung dầu có thể ảnh hưởng tới thương mại, sản xuất công nghiệp và thị trường tài chính, đồng thời làm gia tăng áp lực lạm phát và làm chậm tăng trưởng kinh tế, đặc biệt nếu xung đột kéo dài”, bà nói.

Trong số các nền kinh tế châu Á, Đông Bắc Á được xem là khu vực chịu rủi ro trực tiếp nhất do mức độ phụ thuộc lớn vào nguồn năng lượng nhập khẩu. Theo ông Kardon, Nhật Bản có thể là quốc gia dễ bị tổn thương nhất, xét theo tỷ trọng nhập khẩu, nếu eo biển Hormuz bị gián đoạn.

Dữ liệu thương mại năng lượng cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể của khu vực. Theo ước tính của ngân hàng UBP, khoảng 75% lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản và khoảng 70% của Hàn Quốc đến từ Trung Đông. Trong lĩnh vực khí đốt, mức độ phụ thuộc thấp hơn nhưng vẫn đáng kể: Hàn Quốc nhập khoảng 14% LNG từ Qatar và UAE, trong khi tỷ lệ này ở Nhật Bản khoảng 6%.

Các kho dự trữ LNG của hai nền kinh tế này cũng tương đối hạn chế. Theo Kpler, Hàn Quốc hiện nắm giữ khoảng 3,5 triệu tấn LNG dự trữ, còn Nhật Bản khoảng 4,4 triệu tấn, tương đương nhu cầu tiêu thụ ổn định trong khoảng hai đến bốn tuần. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu sự gián đoạn kéo dài, các nền kinh tế này có thể nhanh chóng phải đối mặt với áp lực nhập khẩu năng lượng với giá cao hơn.

Các tàu chở dầu neo ngoài khơi Fujairah khi Iran tuyên bố sẽ đóng cửa eo biển Hormuz, trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran, tại Fujairah, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ngày 3/3/2026. (Ảnh: REUTERS/Amr Alfiky)

Các tàu chở dầu neo ngoài khơi Fujairah khi Iran tuyên bố sẽ đóng cửa eo biển Hormuz, trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran, tại Fujairah, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ngày 3/3/2026. (Ảnh: REUTERS/Amr Alfiky)

Trung Quốc, nền kinh tế tiêu thụ năng lượng lớn nhất châu Á, cũng không đứng ngoài vòng ảnh hưởng. Bắc Kinh hiện là nước nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới và là khách hàng lớn của dầu Iran. Theo các ước tính thị trường, khoảng 40% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải đi qua eo biển Hormuz, trong khi 30% LNG nhập khẩu của nước này đến từ Qatar và UAE.

Mặc dù vậy, Trung Quốc được cho là có “vùng đệm” nhất định nhờ vào kho dự trữ năng lượng tương đối lớn. Kpler cho biết tồn kho LNG của Trung Quốc vào cuối tháng 2 đạt khoảng 7,6 triệu tấn, đủ giúp nước này duy trì nguồn cung trong ngắn hạn nếu tuyến vận tải bị gián đoạn. Tuy nhiên, nếu tình trạng gián đoạn kéo dài, Trung Quốc có thể buộc phải tìm kiếm nguồn LNG từ các khu vực khác như Đại Tây Dương, qua đó làm gia tăng cạnh tranh trên thị trường năng lượng toàn cầu và đẩy giá lên cao.

Bắc Kinh cũng đã thể hiện rõ sự lo ngại trước nguy cơ leo thang tại Hormuz. Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 2/3 kêu gọi các bên liên quan “ngay lập tức chấm dứt các hoạt động quân sự, tránh leo thang căng thẳng và bảo đảm an toàn hàng hải tại eo biển Hormuz”, nhấn mạnh rằng tuyến đường này đóng vai trò thiết yếu đối với ổn định kinh tế toàn cầu.

Hiệu ứng dây chuyền lên toàn bộ chuỗi cung ứng

Không chỉ các nền kinh tế nhập khẩu năng lượng trực tiếp, nhiều quốc gia sản xuất trong khu vực cũng có thể chịu tác động từ cú sốc giá năng lượng. Điều này đặc biệt đáng chú ý với những nền kinh tế sản xuất trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

“Việt Nam là một trung tâm sản xuất lớn cho nhiều mặt hàng của thế giới. Nếu không có đủ năng lượng cần thiết, nền kinh tế sẽ chịu tác động”, GS. TS Dorraj nhận định.

Theo bà Weisel, việc giá năng lượng tăng cao cùng với tình trạng gián đoạn vận tải có thể làm chậm quá trình nhập khẩu linh kiện và nguyên liệu trung gian, đồng thời đẩy chi phí sản xuất và cước vận chuyển lên cao. Điều này sẽ tạo ra sức ép đáng kể đối với các nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu như Việt Nam.

Theo Tiến sĩ Steven Okun, CEO của APAC Advisors – một công ty tư vấn địa chiến lược có trụ sở tại Singapore, điều khiến thị trường lo ngại nhất hiện nay là sự thiếu rõ ràng về mục tiêu chiến lược của cuộc xung đột.

Chia sẻ với VTC News, ông cho rằng trong giai đoạn hiện tại, có nhiều “known unknowns” – những yếu tố mà các nhà hoạch định chính sách và thị trường biết rằng họ chưa thể dự đoán được. Chẳng hạn, mục tiêu thực sự của chiến dịch quân sự của Mỹ là gì, điều gì được coi là thành công để chấm dứt các cuộc tấn công, hay liệu Iran có quyết định nhắm vào các cơ sở dầu khí trong khu vực nhằm làm gián đoạn nguồn cung toàn cầu hay không.

Theo ông Okun, nếu Iran thực sự tìm cách đóng cửa Hormuz trong thời gian dài hoặc tấn công các cơ sở năng lượng tại vùng Vịnh, tác động đối với kinh tế toàn cầu sẽ rất lớn.

“Không có giải pháp thay thế thực sự trong ngắn hạn. Các doanh nghiệp sẽ phải tính đến chi phí năng lượng cao hơn và nguy cơ gián đoạn nguồn cung”, ông nhận định.

Một câu hỏi quan trọng khác là cuộc khủng hoảng có thể kéo dài bao lâu. Theo ông Kardon, hiện chưa có cách nào để dự đoán chính xác bởi điều đó phụ thuộc vào diễn biến quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran cũng như phản ứng của các lực lượng ủy nhiệm trong khu vực. Tuy nhiên, ông cho rằng sự gián đoạn tại Hormuz có thể kéo dài ít nhất vài tháng nếu xung đột tiếp tục leo thang.

Khói bốc lên tại khu công nghiệp dầu mỏ Fujairah sau khi hệ thống phòng không đánh chặn một máy bay không người lái, trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran, ngày 3/3/2026. (Ảnh: Reuters/Amr Alfiky)

Khói bốc lên tại khu công nghiệp dầu mỏ Fujairah sau khi hệ thống phòng không đánh chặn một máy bay không người lái, trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran, ngày 3/3/2026. (Ảnh: Reuters/Amr Alfiky)

Trong dài hạn, tình hình hiện nay cũng có thể thúc đẩy một số nền kinh tế lớn như Trung Quốc tăng tốc các chiến lược đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và giảm phụ thuộc vào các tuyến vận tải biển dễ bị tổn thương.

Theo ông Kardon, một trong những lựa chọn quan trọng của Bắc Kinh là tăng cường nhập khẩu năng lượng từ Nga, bao gồm các dự án khai thác tại Bắc Cực và tuyến vận tải mới qua Tuyến hàng hải Bắc Cực. Ông cho rằng Trung Quốc từ lâu đã tìm cách giảm bớt cái gọi là “thế lưỡng nan Malacca” – sự phụ thuộc vào các tuyến hàng hải dễ bị phong tỏa – và cuộc khủng hoảng Hormuz có thể thúc đẩy nước này tăng tốc các nỗ lực đó.

Trong lịch sử, tuyến vận tải này hiếm khi bị gián đoạn kéo dài, ngay cả trong các cuộc chiến trước đây tại Trung Đông. Nếu Hormuz thực sự bị phong tỏa trong thời gian dài, thị trường năng lượng toàn cầu có thể phải đối mặt với cú sốc lớn nhất kể từ các cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế kỷ XX.

Diễm Châu

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/yet-hau-nang-luong-toan-cau-bi-bop-nghet-va-moi-nguy-toan-the-gioi-ar1005803.html