3 mức độ trang bị thiết bị phục vụ giáo dục STEM
Tại Thông tư 86/2026/TT-BGDĐT, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định 3 mức độ trang bị thiết bị phục vụ giáo dục STEM.
Bảo đảm nguyên tắc dùng chung thiết bị cho nhiều môn học và hoạt động giáo dục STEM
Điều 13. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ giáo dục STEM
1. Nguyên tắc bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ giáo dục STEM:
a) Khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện có của nhà trường, bao gồm lớp học, phòng học bộ môn, phòng thực hành, thư viện và thiết bị dạy học tối thiểu đã được trang bị; thiết bị giáo dục STEM được trang bị bổ sung vào cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện có;
b) Việc đầu tư, mua sắm bổ sung được thực hiện theo lộ trình, phù hợp với mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục STEM quy định tại Điều 6 Thông tư này, năng lực khai thác của đội ngũ và điều kiện thực tế của từng nhà trường, địa phương; bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tránh dàn trải, lãng phí và tránh trùng lặp với danh mục thiết bị dạy học tối thiểu đã ban hành;
c) Bảo đảm nguyên tắc dùng chung thiết bị cho nhiều môn học và hoạt động giáo dục;
d) Ưu tiên bố trí nguồn lực cho cơ sở giáo dục phổ thông ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách, bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục STEM công bằng giữa các vùng, miền;
đ) Ưu tiên thiết bị có tính ứng dụng cao, cấu trúc mở, có khả năng nâng cấp linh hoạt và sử dụng vật tư tiêu hao phổ biến, an toàn trên thị trường, hạn chế phụ thuộc vào giải pháp công nghệ độc quyền của nhà cung cấp.
Quy định bố trí không gian giáo dục STEM
2. Bố trí không gian giáo dục STEM:
a) Cơ sở giáo dục phổ thông tổ chức hoạt động giáo dục STEM trên cơ sở không gian học tập hiện có của nhà trường; không bắt buộc phải xây dựng hoặc bố trí không gian giáo dục STEM dùng chung;
b) Thiết bị giáo dục STEM được bố trí, lắp đặt tại không gian giáo dục STEM phù hợp của nhà trường, bảo đảm an toàn, thuận tiện cho việc quản lí, khai thác dùng chung giữa các môn học;
c) Trường hợp có điều kiện về quỹ phòng và nguồn lực, cơ sở giáo dục phổ thông được bố trí không gian giáo dục STEM dùng chung; số lượng, quy mô được xác định theo quy mô học sinh và điều kiện thực tế của địa phương, thuận lợi cho việc khai thác, vận hành;
d) Không gian bố trí, lắp đặt thiết bị giáo dục STEM bảo đảm diện tích, ánh sáng, thông gió, an toàn điện, an toàn phòng cháy, chữa cháy và thoát hiểm theo quy định;
đ) Thiết bị nội thất, hạ tầng kĩ thuật và thiết bị số dùng chung tại nơi bố trí, lắp đặt thiết bị giáo dục STEM phải bảo đảm tiêu chuẩn kĩ thuật về phòng học, phòng học bộ môn theo quy định của pháp luật và tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật có liên quan.
3 mức độ trang bị thiết bị phục vụ giáo dục STEM, có tính kế thừa
3. Việc trang bị thiết bị phục vụ giáo dục STEM được thực hiện theo 03 (ba) mức độ, có tính kế thừa. Mức độ trang bị phản ánh mức độ đầu tư thiết bị của cơ sở giáo dục phổ thông, không phải là tiêu chí phân loại phòng học và không phải là điều kiện để xác định cơ sở giáo dục phổ thông có tổ chức giáo dục STEM. Cơ sở giáo dục phổ thông căn cứ điều kiện thực tế để lựa chọn và phát triển dần theo lộ trình:
a) Mức 1: Tổ chức giáo dục STEM chủ yếu trên cơ sở khai thác thiết bị dạy học tối thiểu, cơ sở vật chất và vật liệu hiện có; không yêu cầu cơ sở giáo dục phổ thông phải có phòng học riêng hoặc phải đầu tư thêm một danh mục thiết bị riêng để tổ chức giáo dục STEM;
b) Mức 2: Tổ chức giáo dục STEM trên cơ sở được trang bị bổ sung một số thiết bị giáo dục STEM phù hợp với nội dung, hình thức tổ chức, nhu cầu và điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục phổ thông, lựa chọn từ danh mục khung tại các Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này; thiết bị được bố trí tại không gian quy định tại khoản 2 Điều này. Cơ sở giáo dục phổ thông được đầu tư ở Mức 2 trên cơ sở bảo đảm thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
c) Mức 3: Tổ chức giáo dục STEM chuyên sâu thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thiết bị ở Mức 3 được trang bị bổ sung trên cơ sở kế thừa thiết bị đã có ở Mức 2 quy định tại điểm b khoản này, không thay thế thiết bị đã đầu tư, bao gồm thiết bị thuộc danh mục khung quy định tại các Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này với cấu hình, tính năng cao hơn và các thiết bị chuyên sâu khác phục vụ nghiên cứu khoa học, kĩ thuật và đổi mới sáng tạo của học sinh.
Thiết bị giáo dục STEM phải bảo đảm an toàn, phù hợp lứa tuổi, có tài liệu hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt
4. Danh mục thiết bị giáo dục STEM tại các Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này là danh mục khung, định hướng về chủng loại, chức năng giáo dục, tính năng và yêu cầu kĩ thuật cơ bản theo từng cấp học; không quy định nhãn hiệu, xuất xứ, thông số kĩ thuật chi tiết, số lượng trang bị; không phải là danh mục thiết bị dạy học tối thiểu, không phải là tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị và không bắt buộc trang bị đồng thời, đầy đủ toàn bộ thiết bị trong danh mục.
Việc lựa chọn, trang bị, mua sắm, quản lí, sử dụng thiết bị được thực hiện theo lộ trình, phù hợp với nội dung, hình thức giáo dục STEM, nhu cầu, điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục phổ thông, khả năng cân đối nguồn lực của địa phương và quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị, ngân sách nhà nước, đầu tư công, đấu thầu, quản lí, sử dụng tài sản công.
5. Thiết bị giáo dục STEM phải bảo đảm an toàn, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh, có tài liệu hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt; thiết bị điện, điện tử, thiết bị gia công và hóa chất, vật tư tiêu hao được quản lí, sử dụng theo quy chuẩn kĩ thuật và quy định của pháp luật.
6. Cơ sở giáo dục phổ thông quản lí, khai thác, sử dụng thiết bị giáo dục STEM và không gian giáo dục STEM theo quy chế quản lí, sử dụng tài sản, cơ sở vật chất, thiết bị của nhà trường và quy định của pháp luật; phân công người quản lí thiết bị; hằng năm thực hiện kiểm kê, bảo trì, đánh giá hiệu quả sử dụng và xác định nhu cầu bổ sung./.
