4 chính sách mới về môi trường có hiệu lực từ tháng 5/2026
Lộ trình kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy; Việt Nam cho phép trao đổi tín chỉ các-bon với đối tác quốc tế; doanh nghiệp bắt buộc tái chế sản phẩm, bao bì theo cơ chế EPR; ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ chứa để cắt, giảm lũ cho hạ du.
Từ tháng 5/2026, bốn chính sách mới môi trường sẽ chính thức có hiệu lực, người dân và doanh nghiệp cần biết.

Lộ trình kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy
Quyết định 13/2026/QĐ-TTg ngày 02/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định lộ trình áp dụng Quy chuẩn khí thải xe mô tô, xe gắn máy chính thức có hiệu lực từ ngày 16/5.
Theo Điều 4, lộ trình bắt đầu thực hiện kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ thực hiện như sau:
Từ ngày 1/7/2027 đối với thành phố Hà Nội và TPHCM.
Từ ngày 1/7/2028 đối với các thành phố trực thuộc trung ương còn lại.
Từ ngày 1/7/2030 đối với các tỉnh còn lại. Tùy theo tình hình thực tế, các tỉnh này có thể quy định áp dụng thời hạn sớm hơn.
Về quy định cụ thể đối với từng loại xe, Quyết định số 13 nêu rõ:
Xe mô tô sản xuất hoặc nhập khẩu trước năm 2008, áp dụng Mức 1 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe mô tô sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2008 đến hết năm 2016, áp dụng Mức 2 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe mô tô sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2017 đến ngày 30/6/2026, áp dụng Mức 3 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe mô tô sản xuất hoặc nhập khẩu từ ngày 1/7/2026, áp dụng Mức 4 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu trước năm 2016, áp dụng Mức 1 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2017 đến ngày 30/6/2027, áp dụng Mức 2 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu từ ngày 1/7/2027, áp dụng Mức 4 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Từ ngày 1/1/2028, xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội và TP.HCM phải đáp ứng quy định về khí thải Mức 2 trở lên.
Xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông vào “vùng phát thải thấp” của thành phố Hà Nội theo quy định của Luật Thủ đô phải đáp ứng quy định về khí thải theo Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội.
Chính thức cho phép trao đổi tín chỉ các-bon với đối tác quốc tế
Nghị định 112/2026/NĐ-CP của Chính phủ về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 19/5.
Theo Nghị định 112/2026/NĐ-CP, Việt Nam đã chính thức cho phép thực hiện trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon với các đối tác quốc tế theo các cơ chế cụ thể, gắn trực tiếp với việc thực hiện Thỏa thuận Paris và mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia.
Điều 3 Nghị định 112/2026/NĐ-CP nêu rõ, trao đổi tín chỉ các-bon quốc tế được hiểu là hoạt động trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế.
Các cơ chế thực hiện trao đổi quốc tế được xác định cụ thể tại điều này, bao gồm:
Cơ chế theo Điều 6.2 của Thỏa thuận Paris là cơ chế hợp tác giữa các quốc gia có chuyển giao kết quả giảm phát thải.
Cơ chế theo Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris là cơ chế thị trường quốc tế với hệ thống tín chỉ các-bon được quản lý tập trung; và các cơ chế trao đổi quốc tế khác ngoài hai cơ chế nêu trên.
Doanh nghiệp bắt buộc tái chế sản phẩm, bao bì theo cơ chế EPR
Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (tên viết tắt tiếng Anh là EPR) chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 25/5.
Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì thuộc danh mục phải thực hiện tái chế theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc khi đưa ra thị trường Việt Nam.
Điều 5 quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc là tỷ lệ khối lượng tối thiểu phải tái chế so với tổng khối lượng sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường; tỷ lệ này được quy định tại Phụ lục I và điều chỉnh tăng 3 năm/lần, tối đa 10%, bắt đầu từ năm 2029.
Theo Điều 6, doanh nghiệp được lựa chọn hình thức thực hiện gồm: tự tái chế, thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế; các đơn vị thực hiện phải có giấy phép môi trường theo quy định.
Trường hợp không tổ chức tái chế, theo khoản 1 Điều 8, doanh nghiệp phải đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam theo công thức F = R × V × Fs; việc kê khai thực hiện trước ngày 01/4 và nộp tiền trước ngày 20/4 hàng năm (khoản 3 Điều 8). Ngoài ra, khoản 1 Điều 7 yêu cầu doanh nghiệp phải đăng ký kế hoạch và báo cáo kết quả tái chế hằng năm trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia trước ngày 01/4 hàng năm.
Một số trường hợp không phải thực hiện tái chế được quy định tại khoản 3 Điều 4, như sản phẩm để xuất khẩu, doanh thu dưới 30 tỷ đồng/năm hoặc bao bì đã được thu hồi đạt tỷ lệ theo quy định. Theo Điều 24, các quy định trên chính thức áp dụng từ ngày 25/5/2026 đối với hoạt động tái chế sản phẩm, bao bì và xử lý chất thải từ năm 2026 trở đi.
Ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ chứa để cắt, giảm lũ cho hạ du
Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP của Chính phủ về thực hiện một số giải pháp cấp bách trong quản lý an toàn đập, hồ chứa nước chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5.
Theo Điều 2 Nghị quyết 12/2026/NQ-CP, về nguyên tắc vận hành hồ chứa trong tình huống khẩn cấp, Nghị quyết nhấn mạnh phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn đập, hồ chứa nước, phòng thủ dân sự, phòng - chống thiên tai và pháp luật có liên quan.
Đồng thời, ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ chứa để thực hiện nhiệm vụ cắt, giảm lũ cho hạ du khi vận hành liên hồ chứa, đơn hồ trong mùa mưa lũ và trong tình huống dự báo có thể xảy ra mưa lũ lớn, đặc biệt lớn trên lưu vực; phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong vận hành hồ chứa, đảm bảo rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và rõ kết quả.











