5 giải pháp hình thành văn hóa chất lượng bền vững trong giáo dục đại học

Chính sách phù hợp, hệ thống giám sát, công cụ đánh giá khoa học, năng lực thực thi mạnh mẽ làm nên văn hóa chất lượng bền vững trong GDĐH.

Ông Nguyễn Thế Lực, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ và Giáo dục Việt Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Dược Hà Nội nhận định: Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) là một bước chuyển đổi chiến lược, đặt nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam.

Không chỉ luật hóa các hoạt động bảo đảm chất lượng một cách toàn diện, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) còn xác định rõ cơ chế, trách nhiệm, quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học, góp phần nâng cao hiệu quả, minh bạch và tính bền vững của hệ thống giáo dục đại học.

Tuy nhiên, quy định pháp lý là nền tảng, còn thực thi mới là thước đo hiệu quả. Do đó, Luật đặt ra yêu cầu các cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục đại học thiết kế các giải pháp thực hiện một cách đồng bộ và khả thi.

Dưới đây là những giải pháp thiết thực, mang tính hệ thống, khoa học và phù hợp với bối cảnh phát triển giáo dục đại học Việt Nam được ông Nguyễn Thế Lực đề xuất:

Thứ nhất, xây dựng cơ chế vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng tích hợp. Theo đó, ban hành tiêu chuẩn và chỉ số đánh giá cụ thể, đo lường được cho cả mức độ chất lượng đầu vào, quá trình và đầu ra của chương trình/đơn vị đào tạo. Đồng thời, phối hợp với các tổ chức kiểm định trong nước/ quốc tế để chuẩn hóa khung chỉ số nhằm thúc đẩy tính so sánh và hội nhập quốc tế. Xây dựng hệ thống quality dashboard tập trung minh bạch hóa dữ liệu, kết quả đánh giá, phản hồi từ người học và các bên liên quan.

Thứ hai, phát triển văn hóa chất lượng và năng lực cho các bên tham gia. Với đề xuất này, ông Nguyễn Thế Lực nhấn mạnh việc tăng cường đào tạo chuyên sâu cho cán bộ quản lý và giảng viên về quản trị chất lượng, đánh giá nội bộ, sử dụng dữ liệu đánh giá và cải tiến liên tục.

Cùng với đó, thành lập các đơn vị chất lượng độc lập trong cơ sở giáo dục đại học với nguyên tắc hoạt động chuyên nghiệp, không lệ thuộc vào tổ chức quản lý khác. Khuyến khích cơ sở giáo dục đại học phối hợp với doanh nghiệp, cựu sinh viên trong xây dựng và rà soát chuẩn đầu ra, sát với nhu cầu lao động và đổi mới sáng tạo.

Thứ ba, mở rộng hệ thống kiểm định chất lượng bên ngoài và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế. Theo đó, cần phát triển các tổ chức kiểm định chất lượng độc lập đáp ứng chuẩn khu vực và quốc tế, đồng thời tiến tới công nhận lẫn nhau với các tổ chức quốc tế nhằm gia tăng tính minh bạch và cạnh tranh.

Các cơ sở giáo dục đại học cũng cần được khuyến khích tham gia kiểm định quốc tế trên cơ sở tự nguyện để nâng cao uy tín và chuẩn hóa chất lượng đào tạo; đồng thời xây dựng cơ chế công nhận kết quả kiểm định giữa quốc gia và quốc tế, tạo điều kiện cho các cơ sở tìm kiếm cơ hội hợp tác xuyên biên giới.

Thứ tư, pháp lý hóa đánh giá hiệu quả đào tạo và phản hồi ứng dụng. Cụ thể, cần thiết lập hệ thống vòng phản hồi (feedback loops) để thu thập dữ liệu từ sinh viên, doanh nghiệp và các đối tác xã hội, sử dụng các dữ liệu này làm căn cứ cải tiến chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy cũng như điều chỉnh chiến lược phát triển.

Kết quả đánh giá chất lượng cũng cần được gắn với chính sách phân bổ nguồn lực như tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất, từ đó tạo động lực cải tiến chất lượng nội bộ một cách bền vững.

Thứ năm, tăng cường giám sát và xử lý vi phạm. Theo đó, cần thiết lập cơ chế giám sát liên tục sau kiểm định, đi kèm với các chế tài rõ ràng đối với những cơ sở không đáp ứng chuẩn chất lượng như tạm dừng tuyển sinh, đình chỉ chương trình đào tạo hoặc thu hồi giấy phép. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ giám sát trực tuyến và hệ thống báo cáo tự động cũng cần được triển khai nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu suy giảm chất lượng, qua đó kịp thời có biện pháp can thiệp.

“Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) đã tạo ra khung pháp lý đầy đủ và tiến bộ cho hoạt động đảm bảo chất lượng, phù hợp với xu hướng tự chủ đại học hiện đại và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, hiệu quả thực tiễn không tự động đến từ luật; cần có chính sách chi tiết, hệ thống giám sát vận hành, các công cụ đánh giá khoa học và năng lực thực thi mạnh mẽ của các bên liên quan. Sự đồng bộ giữa quy định pháp lý, văn hóa chất lượng và công nghệ hỗ trợ mới tạo nên nền tảng vững chắc cho giáo dục đại học phát triển chất lượng, minh bạch và bền vững trong giai đoạn mới”, ông Nguyễn Thế Lực nhấn mạnh.

Hải Bình

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/5-giai-phap-hinh-thanh-van-hoa-chat-luong-ben-vung-trong-giao-duc-dai-hoc-post770303.html