65 tỷ thùng dầu và ván cược lớn của Mỹ tại Venezuela

Phía sau những cam kết đầu tư vào dầu khí Venezuela là những bài toán lớn về quyền kiểm soát tài nguyên, ảnh hưởng của Mỹ tại Nam Mỹ, tranh chấp Essequibo và tương lai của Caracas trong OPEC.

Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright (trái) và Tổng thống lâm thời Venezuela Delcy Rodriguez tại Lễ ký thỏa thuận dầu mỏ ở Caracas ngày 2/9. (Nguồn: Euronews)

Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright (trái) và Tổng thống lâm thời Venezuela Delcy Rodriguez tại Lễ ký thỏa thuận dầu mỏ ở Caracas ngày 2/9. (Nguồn: Euronews)

Ngày 28/8, Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố thỏa thuận dầu mỏ với Venezuela mà ông gọi là “thương vụ dầu mỏ lớn nhất trong lịch sử thế giới”, mở đường cho Washington tiếp cận khoảng 65 tỷ thùng dầu của quốc gia Nam Mỹ.

Chỉ vài ngày sau, ngày 2/9, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright tới Caracas chứng kiến lễ ký loạt thỏa thuận đầu tư giữa Venezuela với Chevron, GE Vernova và Tập đoàn năng lượng Italy Eni, với tổng giá trị lên tới hàng chục tỷ USD.

Về phía Mỹ, Nhà Trắng khẳng định, các thỏa thuận nhằm đưa những nguồn dầu đang bị bỏ không vào khai thác, đồng thời cung cấp vốn và công nghệ để khôi phục ngành năng lượng Venezuela.

Trong khi đó, Tổng thống lâm thời Venezuela Delcy Rodriguez ước tính các thỏa thuận có thể mang lại khoảng 209 tỷ USD cho nước này trong 25 năm.

Riêng Chevron cam kết đầu tư hơn 7 tỷ USD trong 5 năm tới tại Vành đai Orinoco, hướng tới nâng sản lượng lên khoảng 600.000 thùng/ngày, hơn gấp đôi hiện nay.

Tuy nhiên, quy mô của các thỏa thuận cũng đặt ra những câu hỏi về chủ quyền tài nguyên, tính pháp lý và khả năng các chính quyền Venezuela trong tương lai xem xét lại những cam kết dài hạn với doanh nghiệp nước ngoài.

Dầu mỏ Venezuela và cuộc mặc cả với Mỹ

Dầu mỏ khổng lồ của Venezuela đang trở thành thế mặc cả với Mỹ, kéo theo những tính toán về lợi ích kinh tế, chủ quyền tài nguyên và ảnh hưởng địa chính trị tại Nam Mỹ. (Nguồn: LinkedIn)

Dầu mỏ khổng lồ của Venezuela đang trở thành thế mặc cả với Mỹ, kéo theo những tính toán về lợi ích kinh tế, chủ quyền tài nguyên và ảnh hưởng địa chính trị tại Nam Mỹ. (Nguồn: LinkedIn)

Venezuela hiện sở hữu nguồn dầu khổng lồ, song chưa thể khai thác tương xứng với tiềm năng. Sau nhiều năm thiếu đầu tư, cơ sở hạ tầng xuống cấp và các biện pháp trừng phạt khiến ngành dầu khí suy yếu, Caracas cần nguồn vốn, công nghệ và thiết bị để khôi phục sản xuất.

Đây chính là điểm tạo ra “thế mặc cả” giữa Venezuela và Mỹ, khi Caracas có nguồn tài nguyên lớn nhưng đang thiếu những điều kiện cần thiết để đưa nguồn tài nguyên đó trở lại thị trường.

Trong khi đó, với Washington, thỏa thuận mở ra cơ hội tiếp cận sâu hơn với ngành dầu khí Venezuela và tạo ra những lợi ích kinh tế lâu dài.

Khi các doanh nghiệp Mỹ tham gia vào quá trình khôi phục sản xuất tại quốc gia Nam Mỹ, họ sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ sự ổn định của ngành dầu khí và tình hình chính trị tại Caracas.

Từ lợi ích kinh tế, thỏa thuận cũng kéo theo những câu hỏi về chủ quyền và ảnh hưởng của Mỹ tại Venezuela.

Dầu mỏ từ lâu giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử và đời sống chính trị Venezuela. Quốc gia Nam Mỹ này coi rằng, các mỏ dầu là tài sản thuộc về người dân và là nguồn lực quan trọng để nhà nước đầu tư cho các dịch vụ xã hội.

Vì vậy, việc doanh nghiệp có sự hậu thuẫn của Mỹ được trao quyền khai thác trong thời gian dài dễ tạo ra tâm lý lo ngại về mức độ kiểm soát của nước ngoài đối với nguồn tài nguyên quốc gia.

Kéo theo đó, truyền thông cũng ghi nhận người dân Venezuela có những cách nhìn trái ngược về thỏa thuận.

Trong khi một bên kỳ vọng dòng vốn mới sẽ giúp kinh tế phục hồi, còn số khác lại lo ngại nước này có thể mất dần quyền kiểm soát đối với nguồn tài nguyên của mình.

Trong một diễn biến liên quan, tính toán địa chính trị cũng trở nên rõ nét hơn khi đặt Venezuela cạnh Guyana và tranh chấp Essequibo. Đây là vùng lãnh thổ rộng khoảng 160.000 km² mà Venezuela tuyên bố chủ quyền, nhưng hiện do Guyana quản lý.

Tranh chấp kéo dài từ thế kỷ XIX trở nên đặc biệt nhạy cảm sau khi Georgetown phát hiện các mỏ dầu lớn ngoài khơi, biến khu vực này thành một điểm nóng địa chính trị gắn với lợi ích năng lượng.

Trong khi đó, Tập đoàn Chevron hiện có hoạt động dầu khí tại cả Venezuela và liên doanh tại khu vực Stabroek của Guyana, nơi sản lượng đạt khoảng 900.000 thùng/ngày và được dự báo tăng lên 1,7 triệu thùng/ngày vào năm 2030.

Việc các doanh nghiệp Mỹ có hoạt động ở cả hai phía của tranh chấp khiến Washington có thêm động lực để quan tâm việc kiểm soát căng thẳng giữa Caracas và Georgetown.

Tuy nhiên, hiện chưa có dấu hiệu nào cho thấy lợi ích dầu mỏ đã khiến Venezuela thay đổi lập trường về Essequibo.

Tại phiên tranh tụng trước Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) hồi tháng 5/2026, Tổng thống lâm thời Delcy Rodriguez vẫn bác bỏ thẩm quyền của tòa và tuyên bố Caracas sẽ không tuân thủ phán quyết bất lợi.

Bàn cờ dầu mỏ đổi chiều

Venezuela, một trong những nước sáng lập OPEC, đang cân nhắc khả năng rời tổ chức trong bối cảnh ngành dầu khí được đẩy mạnh phục hồi. (Nguồn: LatinAmerica Post)

Venezuela, một trong những nước sáng lập OPEC, đang cân nhắc khả năng rời tổ chức trong bối cảnh ngành dầu khí được đẩy mạnh phục hồi. (Nguồn: LatinAmerica Post)

Một hệ quả đáng chú ý khác của thỏa thuận dầu mỏ Mỹ-Venezuela là khả năng Caracas tính chuyện rời Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Đáng chú ý, Venezuela là một trong những nước sáng lập OPEC từ năm 1960.

Nếu quyết định này được đưa ra, Caracas sẽ có thêm dư địa để tăng sản lượng theo nhu cầu của các đối tác và thị trường, thay vì phải cân nhắc các cơ chế điều tiết sản lượng của OPEC.

Với mục tiêu đưa sản lượng vượt 1,5 triệu thùng/ngày, lựa chọn đứng ngoài OPEC có thể trở nên phù hợp hơn với hướng phục hồi ngành dầu khí mà Venezuela đang theo đuổi.

Về trước mắt, khả năng Venezuela rời OPEC cũng khó tạo ra cú sốc lớn đối với nguồn cung toàn cầu, bởi sản lượng của nước này đã giảm mạnh so với thời kỳ đỉnh cao.

Bên cạnh đó, Caracas nhiều năm qua được miễn các hạn ngạch sản xuất do ngành dầu khí suy giảm dưới tác động của các biện pháp trừng phạt.

Do đó, giá trị lớn hơn nằm ở tác động đối với vai trò của OPEC.

Sau khi Angola và Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) lần lượt rời OPEC vào năm 2024 và 2026, khả năng Venezuela rời đi có thể tiếp tục làm gia tăng những câu hỏi về sự gắn kết của tổ chức này.

Mặt khác, đối với Mỹ, một Venezuela đứng ngoài OPEC có thể tạo thêm khoảng trống để các doanh nghiệp nước này thúc đẩy đầu tư và mở rộng sản lượng tại quốc gia Nam Mỹ.

Khi doanh nghiệp Mỹ ngày càng tham gia sâu vào ngành dầu khí Venezuela, nguồn cung mới từ Caracas cũng sẽ gắn chặt hơn với các hoạt động kinh doanh của họ.

Trong bối cảnh sản lượng dầu của Guyana cũng đang tăng nhanh, khu vực Tây Bán cầu có thể trở thành một nguồn cung ngày càng quan trọng ngoài OPEC, qua đó làm thay đổi tương quan giữa các trung tâm sản xuất dầu truyền thống và các nguồn cung mới.

Các chuyên gia nhận định, câu chuyện Venezuela với OPEC có ý nghĩa rộng hơn một quyết định về tư cách thành viên.

Đồng thời, thỏa thuận dầu mỏ đang đặt Caracas vào một lựa chọn lớn giữa việc tiếp tục gắn với cơ chế điều tiết sản lượng của OPEC và mở rộng hợp tác với Mỹ để nhanh chóng khôi phục ngành dầu khí.

Nếu Venezuela thực sự rời OPEC, bước đi ấy sẽ cho thấy, ảnh hưởng của thỏa thuận với Washington đã vượt ra ngoài phạm vi khai thác 65 tỷ thùng dầu, chạm tới cả cách Venezuela định vị mình trong trật tự năng lượng quốc tế.

(theo Modern Diplomacy, Audacy)

Trung Anh

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/65-ty-thung-dau-va-van-cuoc-lon-cua-my-tai-venezuela-439825.html