8 thách thức của giáo dục ĐH trước thềm năm học mới
Khoảng cách giữa khát vọng vươn tầm và năng lực nội tại đang đặt các trường đại học trước 8 thách thức quyết định vị thế trong năm học mới 2026 - 2027.
Năm học 2026-2027 mở ra trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng.
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) cho biết, tuyển sinh đợt 1 năm nay có hơn 633 nghìn thí sinh xác nhận nhập học đại học, tăng khoảng 4% so với đợt 1 năm 2025.

Học tập, nghiên cứu trong phòng lab trường đại học. Ảnh: NTCC
Năm học mới 2026 - 2027 là năm đầu tiên nhiều mục tiêu của Nghị quyết 71 (về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo) được triển khai thực tế. Nghị quyết xác định, giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đến năm 2030 có 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn quốc gia, ít nhất 35% người học thuộc các ngành khoa học cơ bản, kĩ thuật và công nghệ, tuyển dụng ít nhất 2.000 giảng viên giỏi từ nước ngoài.
Khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực thực tế của hệ thống tạo ra tám thách thức lớn đối với giáo dục đại học trong năm học 2026 - 2027.
Giữ chân người học
Thứ nhất, cuộc chiến giữ chân người học. Tuyển đủ chỉ tiêu không còn là tấm khiên an toàn. Khi người học có hàng ngàn lựa chọn, cán cân đã lệch về phía chất lượng. Thí sinh ngày nay khi đặt nguyện vọng đăng kí sẽ dựa trên các yếu tố từ điểm chuẩn, học phí, cơ sở vật chất đến cơ hội việc làm và uy tín tấm bằng. Những trường sống dựa vào chiêu trò "mở ngành hot, gom sinh viên" sẽ sớm bị đào thải.
Thứ hai, bài toán giá trị tương xứng học phí. Theo khung học phí hiện hành đối với cơ sở giáo dục đại học công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên trong năm học 2026 - 2027, mức trần dao động từ 1,71 triệu đồng đến 3,5 triệu đồng/sinh viên/tháng, tùy nhóm ngành. Các cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên có mức tối đa bằng 2 lần; cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư có mức tối đa bằng 2,5 lần mức trần tương ứng. Mức học phí tăng hằng năm theo lộ trình. Năm nay, nhiều trường y dược được tự chủ, học phí nhóm ngành này vốn cao nhất trong 7 nhóm ngành đào tạo nay lại tiếp tục tăng, có trường học phí lên đến 80 triệu đồng/năm học.
Khi trần học phí tăng, áp lực minh bạch trở nên gay gắt hơn. Người học đặt câu hỏi: "Số tiền lớn bỏ ra mang lại giá trị gì"? Sự bắt buộc công khai tỉ lệ việc làm thực tế khiến học phí và chất lượng đào tạo trở thành hai yếu tố không thể tách rời.
Thứ ba, cuộc chiến "chảy máu" nhân tài. Mục tiêu thu hút hàng ngàn giảng viên xuất sắc và chuyên gia quốc tế đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt từ khu vực tư nhân. Nhà khoa học giỏi không tìm đến vì cần một chỗ biên chế, họ cần môi trường nghiên cứu tự do, hạ tầng hiện đại và đãi ngộ xứng đáng.
Quy hoạch mạng lưới đại học cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 có 110.000 giảng viên toàn thời gian, ít nhất 40% có trình độ tiến sĩ.
Con số này cho thấy bài toán đội ngũ không chỉ tuyển thêm người mà là nâng chất lượng của lực lượng giảng dạy và nghiên cứu.
Tái cấu trúc hệ thống
Tiếp đến, “bẫy” tự chủ nửa mùa. Tự chủ mang lại quyền quyết định lớn, nhưng cũng đặt lên vai các trường trách nhiệm quản trị. Thiếu năng lực điều hành dựa trên dữ liệu, thiếu tầm nhìn chiến lược sẽ nhanh chóng biến tự chủ tài chính thành khủng hoảng vận hành.
GS. TS Nguyễn Quý Thanh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, một số rào cản khiến tự chủ đại học chưa đi vào chiều sâu thực chất.
Cơ chế tự chủ hiện nay vẫn còn bị đánh đồng lệch lạc với mức độ tự chủ tài chính, nơi năng lực tự thu trở thành thước đo quyền tự chủ, đi ngược lại bản chất và nguyên lí cốt lõi của tự chủ học thuật. Tiến trình phân cấp, phân quyền vẫn còn ít nhiều mang tính hình thức, xuất hiện tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong khâu tổ chức thực hiện. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính đồng bộ và chậm thích ứng với các phương thức giáo dục mới. Điển hình như các quy định về định mức giờ làm việc, quy đổi giờ giảng hay quản lí lao động trên nền tảng số vẫn áp dụng theo tư duy quản lí truyền thống, chưa bắt kịp thực tiễn chuyển đổi số.
Thứ năm, việc đào tạo "chạy việt dã" theo thị trường lao động trí tuệ nhân tạo (AI), chip bán dẫn, kinh tế xanh hay logistics thay đổi từng ngày, trong khi chu trình đổi mới đào tạo đang rất chậm. Đổi tên ngành nhưng vẫn dùng giáo trình cũ và giảng viên cũ là "nước đi tự sát". Thách thức nằm ở việc nâng cấp hạ tầng thực hành và bắt tay chiến lược với doanh nghiệp.
Tạo nguồn lực cho đại học
Kế tiếp, sự phân hóa ngày càng sâu sắc giữa các trường tốp đầu và phần còn lại. Những trường có thương hiệu, đội ngũ nghiên cứu, nguồn lực tài chính và khả năng kết nối doanh nghiệp sẽ có điều kiện phát triển nhanh. Ngược lại, các trường thiếu nguồn lực có thể gặp khó khăn trong tuyển sinh, thu hút giảng viên và đầu tư nghiên cứu.
Thách thức thứ bảy, AI ép giáo dục trả lời câu hỏi: Học để làm gì? Sự bùng nổ của AI khiến trường đại học buộc phải thay đổi toàn bộ hệ thống kiểm tra, chuyển từ đánh giá "sinh viên nhớ được bao nhiêu" sang "sinh viên giải quyết được vấn đề gì", đồng thời siết chặt liêm chính học thuật.
TS Phạm Kim Thư, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ và Quản lí hữu nghị cho rằng, thách thức lớn nhất của giáo dục đại học trong năm học 2026 - 2027 là khả năng thích ứng với sự thay đổi rất nhanh của công nghệ, thị trường lao động và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực.
AI và chuyển đổi số đang làm thay đổi nhiều ngành nghề, trong khi chương trình và phương thức đào tạo thường có độ trễ. Doanh nghiệp cũng ngày càng quan tâm không chỉ đến bằng cấp mà đến năng lực thực tế, ngoại ngữ, kĩ năng số, khả năng sử dụng AI và thích ứng của người học. Bên cạnh đó, các trường phải triển khai những yêu cầu mới của Luật Giáo dục đại học và nâng cao năng lực tự chủ, quản trị, bảo đảm chất lượng. Điều này sẽ làm sự phân hóa giữa các cơ sở giáo dục đại học ngày càng rõ hơn.
Như vậy, theo TS Phạm Kim Thư, thách thức không chỉ là tuyển được người học, mà quan trọng hơn là đào tạo người học có năng lực đáp ứng một thị trường lao động đang thay đổi rất nhanh.
Cuối cùng, áp lực "ngoại hạng" và quốc tế hóa. Cạnh tranh quốc tế không còn là câu chuyện kí kết hợp tác trên giấy. Để hút người học và vào tốp các bảng xếp hạng châu Á, các trường phải nâng tầm năng lực nghiên cứu chung, xuất bản quốc tế và chuyển sang giảng dạy bằng tiếng Anh.
GS Nguyễn Quý Thanh cho biết, chất lượng và năng lực thích ứng của đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng yêu cầu bứt phá.

