Ba cuộc chuyển hóa để Việt Nam vượt lên
Muốn vươn lên nấc thang phát triển cao hơn, Việt Nam cần thực hiện đồng thời ba cuộc chuyển hóa chiến lược, với thể chế là đòn bẩy quyết định.
Cách thức tạo ra của cải của Việt Nam hiện nay vẫn dựa nhiều vào khai thác các nguồn lực sẵn có và thực hiện những công đoạn trong các chuỗi giá trị mà công nghệ, thiết kế, tiêu chuẩn và quyền tổ chức chủ yếu từ bên ngoài. Vì vậy, tăng trưởng nhanh, xuất khẩu lớn và thu hút nhiều vốn đầu tư không tự động chuyển thành năng lực công nghệ, năng lực doanh nghiệp và năng lực sáng tạo của quốc gia.
Không chỉ phụ thuộc vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, mô hình tăng trưởng của Việt Nam còn thiên về mở rộng vốn hơn là nâng cao năng suất. Tỷ lệ đầu tư so với GDP nhiều năm duy trì ở mức khoảng 32–34%, nhưng hệ số ICOR vẫn cao và biến động, trong khi đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp còn thấp. Điều đó cho thấy nền kinh tế vẫn phải huy động một lượng vốn lớn để tạo ra tăng trưởng, nhưng chưa chuyển hóa tương xứng các nguồn lực đầu vào thành năng suất, công nghệ và năng lực cạnh tranh.
Liệu đất nước có kịp chuyển hóa những cơ hội đang mở thành năng lực bứt phá trước khi các cửa sổ ấy khép lại hay không?
Để tận dụng khoảng thời gian còn lại của các cửa sổ cơ hội, Việt Nam phải đồng thời thực hiện ba cuộc chuyển hóa lớn: Chuyển hóa dân số vàng thành vốn nhân lực, chuyển hóa sự dịch chuyển chuỗi cung ứng thành năng lực doanh nghiệp nội địa và chuyển hóa cách mạng công nghệ thành năng lực sáng tạo.

Cách thức tạo ra của cải của Việt Nam hiện nay vẫn dựa nhiều vào khai thác các nguồn lực sẵn có và thực hiện những công đoạn trong các chuỗi giá trị mà công nghệ, thiết kế, tiêu chuẩn và quyền tổ chức chủ yếu từ bên ngoài. Ảnh: VietNamNet
Chuyển hóa dân số vàng thành vốn nhân lực
Mục tiêu không thể chỉ là đào tạo thêm lao động để đáp ứng những công việc hiện có, mà phải nâng cấp toàn bộ cấu trúc năng lực của lực lượng lao động. Giáo dục nghề nghiệp, đại học và nghiên cứu cần được tổ chức gắn với những ngành công nghiệp, công nghệ và năng lực mà Việt Nam xác định phải làm chủ.
Doanh nghiệp phải tham gia thực chất vào việc xây dựng chuẩn kỹ năng, thiết kế chương trình đào tạo, tiếp nhận thực tập sinh và phát triển nhân lực tại chỗ. Đồng thời, cần mở rộng sự dịch chuyển của kỹ sư, nhà khoa học và nhân lực quản trị giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và khu vực công. Tri thức chỉ tạo ra giá trị khi được lưu chuyển và chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, quy trình và doanh nghiệp mới.
Quan trọng hơn, giáo dục phải chuyển từ chuẩn bị con người cho những công việc đã biết sang hình thành khả năng thích ứng với những công việc chưa xuất hiện. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, năng lực học hỏi liên tục, giải quyết vấn đề, làm việc với công nghệ và tổ chức đổi mới có ý nghĩa không kém kiến thức chuyên môn cụ thể.
Cửa sổ dân số vàng chỉ thực sự được tận dụng nếu sau mỗi năm, Việt Nam không chỉ có thêm người tham gia thị trường lao động, mà còn hình thành được nhiều hơn những kỹ sư, nhà khoa học, nhà quản trị, doanh nhân và người lao động có năng suất cao, đủ khả năng tạo ra và làm chủ giá trị.
Chuyển hóa sự dịch chuyển chuỗi cung ứng thành năng lực doanh nghiệp nội địa
Chính sách thu hút đầu tư cần chuyển trọng tâm từ số vốn đăng ký, số dự án và số việc làm sang chất lượng năng lực được hình thành trong nước. Các dự án đầu tư phải được kết nối với chương trình phát triển nhà cung cấp Việt Nam, đào tạo kỹ sư, hợp tác nghiên cứu và hỗ trợ doanh nghiệp nội địa đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Nhà nước không thể áp đặt việc chuyển giao công nghệ bằng mệnh lệnh hành chính, nhưng có thể thiết kế những động lực đủ mạnh để các liên kết về công nghệ, nhân lực và cung ứng thực sự hình thành. Quyền tiếp cận đất đai, hạ tầng, tín dụng, ưu đãi và hỗ trợ công cần được gắn với những kết quả có thể kiểm chứng: tỷ lệ mua hàng từ nhà cung cấp trong nước, số kỹ sư được đào tạo, mức đầu tư cho nghiên cứu, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng và phần giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, các liên kết với khu vực đầu tư nước ngoài chỉ có thể tạo ra năng lực nội sinh khi phía Việt Nam có những doanh nghiệp đủ sức hấp thụ và nâng cấp. Hiện khu vực tư nhân còn phân tán, thiếu các doanh nghiệp dẫn dắt có khả năng cạnh tranh toàn cầu; hạ tầng và logistics còn thiếu đồng bộ, chi phí cao; trong khi những điểm nghẽn trong thực thi chính sách làm suy giảm hiệu quả hỗ trợ. Vì vậy, bài toán không chỉ là đưa doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng, mà còn giúp họ tích lũy quy mô, công nghệ, năng lực quản trị và khả năng tiến lên những khâu tạo ra giá trị cao hơn.
Vì thế, song song với thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái giúp doanh nghiệp nội địa đủ sức lớn lên và nâng cấp. Doanh nghiệp cần được tiếp cận vốn dài hạn, công nghệ, tư vấn quản trị, tiêu chuẩn chất lượng và thị trường. Mua sắm công cùng các dự án đầu tư lớn cần trở thành thị trường thử nghiệm và bệ phóng cho sản phẩm, giải pháp và công nghệ Việt Nam, thay vì chỉ là nơi tiêu thụ những sản phẩm đã có sẵn.
Cửa sổ chuỗi cung ứng chỉ thực sự được tận dụng khi sự hiện diện của các tập đoàn toàn cầu giúp hình thành thêm những nhà cung cấp, kỹ sư, công nghệ và doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tiến lên những vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị. Thành công vì thế không chỉ được đo bằng kim ngạch xuất khẩu tăng thêm, mà bằng năng lực nội địa được tích lũy sau mỗi dòng vốn đầu tư.
Chuyển hóa cách mạng công nghệ và tự động hóa thành năng lực sáng tạo
Nếu trí tuệ nhân tạo và tự động hóa chỉ được sử dụng để tiếp tục cắt giảm chi phí trong các hoạt động gia công, Việt Nam có thể sản xuất nhanh hơn và rẻ hơn nhưng vẫn đứng ở những vị trí thấp trong chuỗi giá trị. Ngược lại, nếu công nghệ được sử dụng để nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, quản trị chuỗi cung ứng, phân tích thị trường và đổi mới mô hình kinh doanh, nó có thể trở thành công cụ khuếch đại năng lực của doanh nghiệp và con người Việt Nam.
Tuy nhiên, nền tảng hấp thụ và sáng tạo công nghệ của Việt Nam vẫn còn mỏng. Chi cho nghiên cứu và phát triển nhiều năm chỉ dao động khoảng 0,4–0,5% GDP, còn cách khá xa mục tiêu 2% vào năm 2030. Đáng chú ý, tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng chi cho nghiên cứu và phát triển giảm từ 12,4% năm 2017 xuống 10,1% năm 2023. Điều đó cho thấy đóng góp trực tiếp của khu vực đầu tư nước ngoài vào hoạt động nghiên cứu và phát triển trong nước còn hạn chế, trong khi năng lực hấp thụ, đổi mới và lan tỏa công nghệ của Việt Nam vẫn chưa đủ mạnh để chuyển hóa sự hiện diện của các tập đoàn toàn cầu thành năng lực sáng tạo nội sinh.
Muốn vậy, Việt Nam phải xây dựng một hệ thống đổi mới có khả năng chấp nhận rủi ro và thất bại có trách nhiệm. Quyền sở hữu trí tuệ phải được bảo vệ thực chất; thị trường vốn cho các dự án công nghệ có độ rủi ro cao cần được phát triển; không gian thử nghiệm phải được mở rộng; mua sắm công cần được sử dụng để tạo thị trường ban đầu cho những sản phẩm và giải pháp mới.
Các chương trình công nghệ chiến lược không thể tiếp tục dàn trải. Mỗi chương trình phải có mục tiêu rõ ràng, nguồn lực đủ tập trung, một đầu mối chịu trách nhiệm và những kết quả có thể kiểm chứng. Điều cần đo không chỉ là số đề tài, bằng sáng chế hay doanh nghiệp được thành lập, mà quan trọng hơn là Việt Nam đã làm chủ được công nghệ nào, thương mại hóa được sản phẩm nào và hình thành được doanh nghiệp nào có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Trí tuệ nhân tạo có thể giúp Việt Nam đi nhanh hơn, nhưng không tự quyết định hướng đi. Nếu chiến lược phát triển vẫn chỉ nhằm tối ưu hóa lợi thế lao động giá rẻ, công nghệ có thể khiến lợi thế ấy biến mất nhanh hơn. Nếu chiến lược hướng tới tích lũy năng lực, công nghệ có thể giúp Việt Nam rút ngắn quá trình học hỏi, đổi mới và từng bước làm chủ những khâu tạo ra giá trị cao hơn.
Đòn bẩy thể chế
Đòn bẩy bao trùm vì thế phải là một thể chế đủ sức buộc mỗi cơ hội được tận dụng hôm nay phải để lại năng lực phát triển cho ngày mai.
Thể chế ấy phải kết nối giáo dục, công nghệ, tài chính, đầu tư, mua sắm công và chính sách phát triển doanh nghiệp theo một mục tiêu chung. Đồng thời, phải xác định rõ Việt Nam cần làm chủ những năng lực nào, nguồn lực được tập trung vào đâu, ai chịu trách nhiệm về kết quả và sự hỗ trợ sẽ được tiếp tục, điều chỉnh hay chấm dứt dựa trên những tiêu chí nào.
Tư duy phát triển mới vì thế phải đặt ra những câu hỏi khác: Sau mỗi năm tăng trưởng, Việt Nam làm chủ thêm được công nghệ nào? Có thêm bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam vươn lên những vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị? Đã hình thành thêm bao nhiêu kỹ sư, nhà khoa học và nhà quản trị có khả năng dẫn dắt đổi mới? Tỷ lệ giá trị được giữ lại trong nước tăng lên bao nhiêu? Việt Nam tạo ra thêm được những sản phẩm, tiêu chuẩn và thương hiệu nào?
Đó mới là những chỉ báo cho thấy Việt Nam đang thực sự tận dụng các cửa sổ cơ hội hay chỉ để chúng lặng lẽ trôi qua. Những gì Việt Nam làm được trong khoảng thời gian còn lại sẽ quyết định đất nước có bước lên một nấc thang phát triển mới hay vẫn mắc kẹt ở những nấc thấp của chuỗi giá trị trong nhiều thập niên tới.
Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/ba-cuoc-chuyen-hoa-de-viet-nam-vuot-len-2543673.html











