Ba danh nhân văn hóa Việt tuổi Ngọ xứng đáng được tôn vinh

Tuổi Ngọ có lẽ gắn với nhiều bậc kì tài nên thế giới và Việt Nam đều có. Những nhân vật nổi danh thế giới tuổi Ngọ mà nhiều người trong chúng ta từng nghe danh như nhà bác học, toán học Newton (1642 - 1725); Chopin, nhà soạn nhạc (1810 - 1842); Nelson Mandela, chính khách (1918 - 2013)... Ở Việt Nam cũng có nhiều danh nhân tuổi Ngọ như Tuệ Tĩnh, Hồ Quý Ly, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Công Trứ, Phạm Văn Đồng… Nhân dịp năm mới Bính Ngọ 2026, xin giới thiệu ba vị danh nhân văn hóa Việt tuổi Ngọ có ảnh hưởng rộng xứng tầm được thế giới vinh danh.

Bảo tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông ở Yên Tử (Quảng Ninh)

Bảo tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông ở Yên Tử (Quảng Ninh)

Người đầu tiên phải kể tới là Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 - 1308), tên khai sinh là Trần Khâm, hoàng đế thứ ba nhà Trần nước Đại Việt. Ông là người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam. Sau khi lập kỳ tích đẩy lùi các cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên Mông, Trần Nhân Tông chăm lo nội trị, khôi phục sự hưng thịnh của Đại Việt, xây dựng các phương án mở nước trong thời bình, hóa giải những mâu thuẫn xã hội để xây dựng đất nước.

Trong chiến tranh, nội bộ hoàng tộc không ít người hoang mang sợ hãi đã có những tấu biểu xin đầu hàng giặc! Nay họ rất sợ hãi nếu điều này lộ ra. Thượng hoàng đã cho đốt hết những tài liệu này để yên lòng những kẻ hèn nhát ấy. Cách xử lý của nhà vua khiến nội bộ hoàng tộc trở nên đoàn kết. Đây là đường lối nhân đạo thể hiện tấm lòng vị tha độ lượng của nhà vua với những ai lầm lỗi khiến họ yên lòng.

Thượng hoàng Nhân Tông cũng tỏ ý không hài lòng vì "một nước bé như bàn tay mà phong quan tước nhiều đến thế!?". Sau chiến tranh, ai cũng muốn ổn định cuộc sống, nhất là cuộc sống vật chất, tâm lý con người cũng nhiều phức tạp và đan xen những nghịch lý, vua đã đại xá thiên hạ, khoan thư sức dân, quan tâm đến biện pháp tinh thần của dân như xây đền thờ, phong thần cho 27 anh hùng, liệt nữ, tạo chỗ dựa vững chắc trong đời sống tâm linh của người dân.

Ngài gắn kết đạo với đời, Phật tại tâm, cư trần lạc đạo để đánh thức cái tâm thiện của mỗi con dân Đại Việt. "Ở đời vui đạo hãy tùy duyên/Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền/Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm/Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền".

Về đối ngoại, cách Trần Nhân Tông ứng xử với các nước xóm giềng cũng uyển chuyển, tinh tế và rất hiệu quả. Với nhà Nguyên phải quyết phá tan ý đồ xâm lược của chúng cũng như cần sự mềm dẻo để bảo toàn. Chính nhà vua từng cởi hoàng bào đắp lên thi thể viên bại tướng Toa Đô. Đấy là đánh giặc không phải đánh thành trì mà đánh vào lòng người.

Với Champa là nước phía nam thường xuyên xảy ra xung đột, Trần Nhân Tông đã thuyết phục được vua nước ấy có những giao hảo thân tình, đã thắt chặt quan hệ hai nước bằng việc gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân và mở thêm cõi Việt với hai châu Ô, Rí. Việc mở rộng cõi bờ vừa hợp lòng dân, vừa tạo thêm một Champa hòa hiếu với Đại Việt, hợp lực chống tư tưởng bành trướng của Nguyên Mông.

Chỉ thời Nhân Tông mới duy trì được mối liên kết này và không chấp nhận áp lực khi quân Nguyên đòi mượn đường đánh Champa (năm 1283). Hơn thế, Người còn chi viện cho Champa hai vạn quân và 500 chiến thuyền để tăng cường lực lượng chiến đấu. Trần Nhân Tông là một nhà ái quốc, một tầm vóc lớn của văn hóa Việt Nam.

Khu lưu niệm danh nhân Lê Quý Đôn tại xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên

Khu lưu niệm danh nhân Lê Quý Đôn tại xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên

Lê Quý Đôn (1726 - 1784) được xem là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời phong kiến. Các công trình đồ sộ của ông đến nay còn lưu giữ rất nhiều nghiên cứu về các lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, nghệ thuật âm nhạc cho đến tập quán, phong tục các xứ, các vùng, nghiên cứu về triết học, tư tưởng, về các thiết định pháp chế..., với một tư tưởng và hành động xuyên suốt là gần gũi với thực tế, gần gũi với nhân dân, gắn bó với những mong muốn của nhân dân.

Ông cũng là người đọc và viết nhiều nhất trong suốt cả ngàn năm của chế độ phong kiến, là người muốn có nhiều những cải cách trong xã hội Việt Nam, là nhà chính trị quan tâm đến nhân dân, gần dân và là nhà trí thức có tư tưởng tự tôn, tự hào dân tộc.

Cuộc đời của Lê Quý Đôn có hai hoài bão lớn là thi hành những cải cách, thiết định những pháp chế nhằm xây dựng một xã hội thái bình thịnh trị và đọc sách, viết sách để vừa hiểu biết vừa có thể giới thiệu, quảng bá và giữ gìn những giá trị tinh hoa của văn hóa, văn hiến Việt.

Xin kể một chuyện độc đáo về Lê Quý Đôn để chứng minh sự bác học của ông. Ta biết ông Galileo Galilei (1564 - 1642) người Italia có học thuyết Nhật tâm, khẳng định trái đất quay quanh mặt trời đã bị Tòa án dị giáo Vatican bỏ tù, ra tù ông lại vẫn khẳng định như cũ. Phải đến năm 1758 thì Viện hàn lâm giáo hoàng mới công nhận và gỡ bỏ việc kết tội sai trái đó. Thế mà năm 1761, tức là chỉ sau có 3 năm, Lê Quý Đôn, qua tìm hiểu của mình đã nhận thức rằng trái đất là một quả cầu quay quanh mặt trời (trang 2 Phủ biên tạp lục, Nxb Văn hóa thông tin, 2007).

Nếu không phải là người chịu đọc sách, chịu tìm hiểu, học hỏi thì một người thuần Nho như Lê Quý Đôn làm sao có thể chắc chắn về một thông tin và một nhận thức về thiên văn học, về một ngành khoa học thực hành mang tính thời sự như thế trong điều kiện thông tin vô cùng hạn chế của thời đại?

Người ta biết đến Lê Quý Đôn trước hết là biết về khả năng thuyết phục bằng lý lẽ khi ông tranh luận với đại diện triều đình Mãn Thanh. Ông đã mạnh mẽ phản đối những từ mà nhà Thanh áp đặt khi gọi sứ thần Việt Nam là "di quan", "di mục", bởi chữ "di" nhằm hạ thấp tư cách, nhân cách của người Đại Việt. Nhà Thanh phải khuất phục gọi đoàn sứ thần của ta là An Nam cống sứ. Việc này xảy ra năm 1762.

Tầm vóc văn hóa của Lê Quý Đôn đương thời khiến nhiều học giả Trung Quốc, Triều Tiên ngưỡng mộ, nhất là khi ông cho ra đời cuốn sách Quần thư khảo biện nghiên cứu, tiếp thu các giá trị văn hóa cổ đại Trung Hoa và bình nghị theo quan điểm của bản thân, được người nước ngoài khen là "tài sánh ngang hào kiệt, học đáng bậc thánh hiền" (Tựa "Quần thư khảo biện" trang 49 của Chu Bội Liên - Nxb KHXH, 1995) và "Lời hay, ý thuận được viết ra từ những suy nghĩ và nhìn nhận sáng suốt, làm gương soi, làm mực thước cho đại thế. Đáng khâm phục thay"! (Lý Huy Trung, sứ thần Triều Tiên, trang 60, sách đã dẫn).

Lê Quý Đôn là một danh nhân văn hóa Việt, một niềm tự hào của người Việt. Nhưng đặt ông ở một không gian rộng hơn, một tầm vóc cao hơn, được quốc tế khẳng định và ngợi ca còn có thể thấy ông là nhân vật văn hóa mang những yếu tố có tính toàn cầu, tính nhân loại, tính thời đại. Chính vì thế mà UNESCO đã vinh danh ông nhân kỷ niệm 300 năm sinh (1726 - 2026).

Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888), "người già ngày xưa đánh giặc Tây, dù mù lòa tim như ngọn đuốc, soi bước chân nghĩa quân lên đường diệt thù..." (lời bài hát về Đồ Chiểu của Lư Nhất Vũ), là Danh nhân văn hóa được thế giới vinh danh năm 2021 nhân kỷ niệm 200 năm sinh (1822 - 2022). Ông sinh tại quê mẹ Bến Tre, còn quê cha ở Thừa Thiên Huế.

Nguyễn Đình Chiểu là nhà giáo, nhà thơ, là thầy thuốc, là nhà văn hóa cả cuộc đời dùng tri thức và ngòi bút phục vụ cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Nam Kỳ chống cuộc xâm lăng của thực dân Pháp suốt hơn 20 năm dù mù lòa. Người Việt Nam ai cũng biết tác phẩm Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Chạy Tây... của Nguyễn Đình Chiểu.

Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đề cao cái đẹp của hành vi NGHĨA, cái lý tưởng đẹp NGHĨA, cái phong cách NGHĨA, "một chữ nghĩa, đánh Tây, tuy là mất, tiếng vang như mõ", "những lăm lòng nghĩa lâu dùng", "mến nghĩa làm quân chiêu mộ", "mến nghĩa bao đành làm phản nước, có nhân nào nỡ phụ tình nhà"...

Nghĩa là lẽ phải của quần chúng, của dân tộc, là lựa chọn ngang tàng bất chấp quyền lực, là tấm lòng trung thực, thủy chung. Nghĩa là nghĩa khí vô hạn được vận hành rất phù hợp với thời đại lúc bấy giờ khi khái niệm trung nghĩa - trung quân không còn nơi bấu víu bởi triều đình đã bị o ép nhượng bộ nhiều điều! Còn "việc nhân nghĩa cốt ở "yên dân" như cách Lê Lợi, Nguyễn Trãi khẳng định từ xưa thì dân cũng đang lầm than chìm đắm! "Nghĩa là Nhân của dân tộc đang đứng lên chiến đấu" (Nguyễn Trung Hiếu). "Đó là cái sinh khí của truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc chứ không phải của giai cấp phong kiến suy tàn" (Lê Duẩn).

Tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu được dịch ra nhiều thứ tiếng. Đó là những tác phẩm văn chương, những "triết lý về hòa bình, về tình yêu giữa con người với con người cũng như lòng khoan dung, tinh thần yêu nước, phản kháng chống giặc ngoại xâm của ông hoàn toàn phù hợp với triết lý và mục tiêu của UNESCO" (Christian Manhart Đại diện UNESCO tại Việt Nam).

Bên cạnh đó, ông còn là một nhà giáo xuất sắc, người cống hiến cả cuộc đời mình để lan tỏa kiến thức. Đây cũng là một sứ mệnh của UNESCO, sứ mệnh giáo dục. Ông hoàn toàn xứng đáng với câu thơ mà ông từng tuyên ngôn: "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà".

Theo

HOÀNG KHÔI

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/ba-danh-nhan-van-hoa-viet-tuoi-ngo-xung-dang-duoc-ton-vinh-205070.html