Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng: Nguy cơ khi lạm dụng nước tinh khiết

Nhiều gia đình đô thị đang tin rằng uống càng nhiều nước tinh khiết càng an toàn cho cơ thể. Chuyên gia y tế đưa ra cảnh báo về sự lạm dụng nước tinh khiết.

Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống, bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam chia sẻ, ít người biết rằng khi loại nước gần như không còn khoáng chất này chiếm phần lớn lượng nước uống hằng ngày, sức khỏe tim mạch, xương khớp và hệ thần kinh có thể bị ảnh hưởng âm thầm, tích tụ qua nhiều năm.

Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam.

Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam.

Nước tinh khiết có “hoàn hảo” như chúng ta nghĩ?

Vài năm trở lại đây, nước tinh khiết từ máy lọc gia đình, nước đóng bình, đóng chai được quảng cáo rộng rãi như giải pháp “an toàn tuyệt đối” cho sức khỏe. Ở các thành phố lớn, việc nhà nào cũng có ít nhất một máy lọc RO đặt cạnh bếp, vài bình nước 20 lít trong phòng khách đã không còn xa lạ.

Nguyên nhân xuất phát từ nỗi lo về ô nhiễm nguồn nước, người dân sợ nước máy có clo, kim loại nặng; sợ nước giếng chứa phèn, vi khuẩn, sợ đường ống cũ, bể chứa bẩn. Trong bối cảnh đó, khái niệm “nước càng sạch càng tốt” gần như trở thành niềm tin phổ biến.

Theo bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, về bản chất, nước tinh khiết được xử lý sao cho chỉ còn lại phân tử H₂O, các chất hòa tan khác bị loại bỏ gần hết. Các công nghệ thường dùng là thẩm thấu ngược (RO), chưng cất hoặc khử ion. Màng lọc RO có kích thước siêu nhỏ giúp loại bỏ vi khuẩn, virus, kim loại nặng, nhưng đồng thời cũng loại luôn khoáng chất có lợi. Với chưng cất, nước được đun sôi thành hơi, rồi ngưng tụ lại; phần lớn chất rắn hòa tan bị giữ lại ở phía sau.

Kết quả là một loại nước rất “trong”, gần như không màu, không mùi, không vị, chỉ số TDS cực thấp. Nếu nhìn ở góc độ an toàn vi sinh, nước tinh khiết có ưu thế rõ rệt. Nhưng nếu đặt trong bức tranh dinh dưỡng và chuyển hóa dài hạn, việc thiếu hầu hết khoáng chất lại là điểm trừ lớn.

Khác với nước tinh khiết, nước khoáng tự nhiên hình thành khi nước mưa thấm qua nhiều tầng đất đá, hòa tan dần các ion canxi, magie, natri, kali… Hàm lượng khoáng trong nước khoáng tương đối ổn định, đủ để đóng góp một phần vào nhu cầu vi chất hằng ngày. Nước suối tự nhiên thường có ít khoáng hơn nước khoáng nhưng vẫn chứa một số ion cần thiết. Nước máy được xử lý đúng chuẩn, sau khi đun sôi, cũng còn giữ lại một phần khoáng tự nhiên.

Trên thực tế, cơ thể chúng ta quen sống với môi trường nước có khoáng từ hàng nghìn năm. Vấn đề chỉ xuất hiện khi khẩu phần nước uống chuyển dịch mạnh sang nước khử khoáng, nước TDS gần bằng 0, chiếm trên một nửa, thậm chí gần như toàn bộ lượng nước đưa vào mỗi ngày trong nhiều năm liền.

Uống quá nhiều nước tinh khiết: Thận, tim, xương đều bị ảnh hưởng

Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng đã chỉ ra nếu lạm dụng uống quá nhiều nước tinh khiết, thận, tim, xương đều bị ảnh hưởng.

Cụ thể, cơ thể “hao” khoáng chất mà không biết. Bác sĩ Hoàng cho biết, cơ thể duy trì sự sống nhờ hàng loạt cân bằng tinh vi, trong đó có cân bằng nước và điện giải. Natri, kali, canxi, magie, clorua… không chỉ nằm trong máu mà còn có mặt trong từng tế bào, từng khoảng dịch giữa các mô. Khi chúng ta liên tục đưa vào cơ thể lượng nước gần như không có ion, nồng độ các chất tan trong máu bị pha loãng.

Hệ thần kinh và nội tiết lập tức phản ứng. Thận nhận lệnh tăng thải nước, giảm cô đặc nước tiểu để kéo nồng độ điện giải trong máu về mức cũ. Cơ chế này giúp chúng ta không bị “loãng” khoáng đột ngột, nhưng có mặt trái là càng tiểu nhiều thì càng kéo theo nhiều ion có lợi ra ngoài. Nếu bữa ăn không đủ giàu khoáng, lượng mất đi dần dần vượt quá lượng nạp vào.

Trong thời gian đầu, người dùng có thể chỉ cảm thấy đi tiểu nhiều, khát nhanh hơn, hơi mệt khi hoạt động gắng sức. Về lâu dài, tình trạng mất cân bằng này có thể biểu hiện bằng chuột rút, đau đầu, khó ngủ, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp tư thế hoặc ngược lại là tăng huyết áp ở một số người nhạy cảm.

Hệ tim mạch “gồng” lên vì thiếu magie và canxi: Magie và canxi tham gia vào hoạt động co bóp của cơ tim, điều hòa nhịp và độ đàn hồi thành mạch. Nhiều nghiên cứu dịch tễ trong nhiều thập kỷ qua ghi nhận vùng dùng nước “cứng” (nước có nhiều canxi, magie) thường có tỷ lệ tử vong do bệnh tim thấp hơn vùng dùng nước “mềm” hoặc nước khử khoáng. Điều này không có nghĩa là nước khoáng chữa được mọi bệnh tim, nhưng cho thấy vai trò của vi khoáng trong phòng ngừa rối loạn tim mạch.

Khi khẩu phần nước uống gần như không chứa canxi và magie, người dùng chỉ còn trông cậy vào thực phẩm. Trong bối cảnh khẩu phần ăn của người Việt vẫn thường thiếu vi chất, việc cắt thêm nguồn khoáng từ nước uống khiến nguy cơ thiếu hụt tăng cao. Thiếu magie làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim, co thắt mạch, gây cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực, khó chịu vùng ngực. Thiếu canxi khiến cơ trơn mạch máu dễ co, góp phần làm tăng áp lực trong lòng mạch.

Một số nghiên cứu can thiệp cho thấy, ở người tăng huyết áp nhẹ, việc bổ sung nước khoáng giàu canxi, magie mỗi ngày có thể giúp cải thiện chỉ số huyết áp sau vài tuần. Ngược lại, nếu vẫn uống đủ lượng nước nhưng toàn bộ là nước tinh khiết, lợi ích này không xuất hiện. Điều đó cho thấy không thể chỉ nhìn vào “lượng nước” mà bỏ qua “chất lượng nước” khi bàn về sức khỏe tim mạch.

Xương, răng và sự phát triển thể chất: Ít người nghĩ đến việc nước uống cũng là một nguồn canxi quan trọng. Trên thực tế, canxi ở dạng ion trong nước thường dễ hấp thu không kém, thậm chí thuận lợi hơn so với một số dạng trong thực phẩm. Khi nguồn nước hàng ngày gần như không có canxi, cơ thể buộc phải dựa hoàn toàn vào bữa ăn. Nếu khẩu phần thiếu sữa, hải sản, rau xanh đậm, ngũ cốc nguyên cám…, nguy cơ thiếu canxi là rất lớn.

Nồng độ canxi trong máu phải được giữ gần như cố định để phục vụ các hoạt động sống cơ bản như dẫn truyền thần kinh, co cơ, đông máu. Khi lượng canxi đưa vào không đủ, cơ thể buộc phải “rút” canxi từ xương ra để bù. Quá trình này diễn ra âm thầm, không đau, không triệu chứng rõ ràng trong nhiều năm. Đến một thời điểm, người bệnh mới phát hiện mình bị loãng xương, gãy xương chỉ sau một va chạm nhẹ hoặc đau lưng, đau cột sống kéo dài.

Trẻ em, thanh thiếu niên, phụ nữ mang thai, phụ nữ sau mãn kinh và người cao tuổi là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất. Trẻ đang lớn cần nhiều canxi và khoáng chất khác để phát triển chiều cao, hoàn thiện bộ xương, răng, hệ thần kinh. Nếu uống phần lớn là nước tinh khiết, ăn uống lại nghèo nàn, trẻ dễ thấp bé, còi xương, sâu răng nhiều. Phụ nữ sau mãn kinh vốn đã mất lợi thế bảo vệ từ hormone estrogen, nếu thêm thiếu khoáng từ nước và thức ăn, tốc độ mất xương sẽ càng nhanh.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Nước RO, Vitamin B12 và vòng xoáy thiếu vi chất

Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng cũng cho hay, không chỉ khoáng chất, việc sử dụng nước tinh khiết kéo dài còn được đề cập như một yếu tố góp phần vào tình trạng thiếu vitamin B12 ở một số nhóm dân cư. Vitamin B12 cần thiết cho việc tạo máu, duy trì hệ thần kinh khỏe mạnh, hỗ trợ chuyển hóa năng lượng. Thiếu B12 kéo dài có thể dẫn đến thiếu máu, tổn thương thần kinh, rối loạn tâm trạng.

Vitamin B12 có cấu trúc đặc biệt, với lõi là nguyên tố coban. Nhiều màng lọc RO được thiết kế để loại bỏ gần như toàn bộ ion kim loại, kể cả các vi lượng cần thiết, trong đó có coban. Khi nguồn nước đầu vào vốn đã nghèo vi chất, việc dùng thêm màng lọc mạnh khiến lượng vi lượng trong nước uống gần như bằng không.

Ở một số quốc gia có tỷ lệ ăn chay cao, người dân vốn đã dễ thiếu B12 do hạn chế thực phẩm nguồn gốc động vật. Nếu họ lại dùng đa số là nước tinh khiết từ RO, nguy cơ thiếu B12 càng tăng. Một số nghiên cứu tại bệnh viện và cộng đồng cho thấy nhóm dùng nước RO lâu năm có tỷ lệ thiếu B12 cao hơn đáng kể so với nhóm dùng các nguồn nước khác.

Ngoài ra, môi trường trong dạ dày và ruột non cũng đóng vai trò quan trọng. Một số giả thuyết cho rằng việc thường xuyên sử dụng nước có TDS rất thấp có thể làm thay đổi lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc, ảnh hưởng đến chức năng tiết “yếu tố nội tại” – một glycoprotein cần thiết cho quá trình gắn và hấp thu B12 ở ruột non. Khi niêm mạc dạ dày bị tổn thương mạn tính, dù khẩu phần ăn vẫn có thực phẩm chứa B12, cơ thể cũng khó hấp thu được đầy đủ.

Hậu quả của thiếu B12 không chỉ dừng ở mệt mỏi, choáng váng, da xanh. Về thần kinh, người bệnh có thể xuất hiện tê bì tay chân, cảm giác như kim châm, giảm cảm giác ở bàn chân, đi lại loạng choạng, dễ ngã. Về tâm thần, có thể gặp tình trạng giảm tập trung, suy giảm trí nhớ, thay đổi tính tình, trầm cảm, thậm chí lú lẫn ở người lớn tuổi.

Nấu ăn, đường ống và những rủi ro ít ai để ý

Theo bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, nếu lạm dụng nước tinh khiết trong nấu ăn sẽ dẫn đến mất khoáng ngay trong nồi canh, chảo rau. Thực tế không ít gia đình dùng nước tinh khiết cho toàn bộ nhu cầu: uống, nấu cơm, nấu canh, luộc rau, hầm xương. Họ nghĩ “càng sạch càng tốt”, ít khi đặt câu hỏi loại nước đó tương tác với thực phẩm như thế nào.

Về mặt hóa học, nước có TDS rất thấp là một dung môi “đói” chất tan. Khi cho rau, thịt, xương vào nấu với loại nước này, các khoáng chất và vitamin tan trong nước sẽ có xu hướng di chuyển từ thực phẩm ra môi trường nước để cân bằng nồng độ. Nếu toàn bộ nước nấu được ăn hết, người dùng vẫn nhận lại một phần khoáng đã hòa tan. Tuy nhiên, nhiều thói quen nấu nướng như luộc rau rồi đổ bỏ nước, trụng bún, mì, chần thịt sơ với nước tinh khiết rồi bỏ đi phần nước đó sẽ làm mất một lượng không nhỏ vi chất.

Các tổng kết khoa học cho thấy nấu ăn bằng nước rất ít khoáng có thể khiến thực phẩm mất đáng kể canxi, magie, coban và một số vi lượng khác. Điều này tạo thành “vòng xoáy” bất lợi, nước uống không cung cấp khoáng; ngược lại còn kéo khoáng ra khỏi thực phẩm trong quá trình chế biến, đặc biệt khi người nấu có thói quen bỏ phần nước luộc.

Bác sĩ Hoàng cũng chỉ ra nguy cơ ăn mòn đường ống, nhiễm kim loại và vi nhựa. Một khía cạnh khác ít được nhắc tới là tính ăn mòn của nước tinh khiết. Nước có nhiều ion khoáng thường tạo một lớp cặn mỏng bám bên trong đường ống kim loại, vô tình trở thành lớp bảo vệ ngăn nước tiếp xúc trực tiếp với kim loại. Ngược lại, nước có TDS rất thấp lại “tham lam” hơn, dễ hòa tan một phần vật liệu ống, mối hàn.

Trong các hệ thống phân phối hoặc thiết bị cũ, nếu dùng nước tinh khiết chảy qua thời gian dài, nguy cơ hòa tan chì, đồng, kẽm từ đường ống vào nước sẽ tăng lên. Chì là chất độc thần kinh mạnh, đặc biệt nguy hiểm với trẻ em vì có thể làm giảm IQ, gây rối loạn hành vi, ảnh hưởng lâu dài đến phát triển não bộ. Đồng ở nồng độ cao cũng có thể gây kích ứng dạ dày, nôn ói, tổn thương gan.

Với nước tinh khiết đóng chai, câu chuyện nằm ở bao bì. Phần lớn nước đóng chai sử dụng nhựa PET. Nhiều khảo sát đã ghi nhận sự hiện diện của các hạt vi nhựa li ti trong nước uống đóng chai, có thể đi vào cơ thể và tích tụ ở một số mô, kích thích phản ứng viêm. Khi chai nhựa bị phơi ngoài nắng, đặt trong cốp xe nóng hoặc dùng nhiều lần, nguy cơ một số hóa chất như phthalates, antimon… thôi nhiễm vào nước càng tăng. Những chất này được nghi ngờ có khả năng gây rối loạn nội tiết, ảnh hưởng đến sinh sản và chuyển hóa.

Tại Việt Nam, sự bùng nổ của thị trường máy lọc RO và nước bình giá rẻ đi kèm với lo ngại về chất lượng sản phẩm trôi nổi, sản xuất “chui”. Không ít cơ sở sử dụng nước giếng khoan, lọc qua hệ RO đơn giản, không có bước bù khoáng, không kiểm soát đầy đủ vi sinh, rồi đóng bình bán ra thị trường. Người dùng rất khó phân biệt bằng mắt thường, vô tình tin rằng cứ “nước tinh khiết” là tốt.

Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng lưu ý, trước bối cảnh ô nhiễm nguồn nước, chúng ta không thể quay lại với thói quen tự do uống nước giếng, nước sông như trước. Nước tinh khiết có vai trò rõ ràng trong việc giảm nguy cơ nhiễm khuẩn, kim loại nặng, hóa chất độc hại. Vấn đề là cần dùng một cách thông minh, thay vì cực đoan.

Về lượng, đa số người trưởng thành cần khoảng 30–40 ml nước cho mỗi kilogram cân nặng mỗi ngày, bao gồm cả nước trong thức ăn. Người nặng 50 kg cần khoảng 1,5–2 lít, 60 kg cần 1,8–2,4 lít, 70–80 kg cần 2,1–3,2 lít mỗi ngày. Nên uống rải đều, tránh để khát mới uống, hạn chế uống quá nhiều sát giờ đi ngủ để không tiểu đêm. Khi chơi thể thao, làm việc ngoài trời nóng, lượng nước cần sẽ tăng.

Về chất lượng, nước uống hằng ngày nên vừa sạch vi sinh, an toàn về hóa chất, vừa có một mức khoáng nhất định. Nước có TDS khoảng vài trăm mg/L thường được đánh giá là phù hợp cho sinh hoạt, trong khi nước dưới 100 mg/L là nước khoáng rất thấp. Nếu gia đình sử dụng chủ yếu nước tinh khiết TDS gần 0, nên cân nhắc các bước bổ sung:

Không dùng 100% nước tinh khiết cho mọi nhu cầu ăn uống trong thời gian dài, trừ khi có chỉ định riêng của bác sĩ.

Với máy lọc RO, ưu tiên loại có lõi bù khoáng ở cuối hoặc chủ động lắp thêm lõi tái khoáng để đưa trở lại một lượng canxi, magie, kali… vào nước sau lọc.

Kết hợp nhiều nguồn nước, uống đan xen nước tinh khiết với nước khoáng thiên nhiên của các thương hiệu uy tín, hoặc nước máy đã xử lý đạt chuẩn và đun sôi, tùy vào tình trạng nguồn nước nơi bạn sống.

Tăng cường thực phẩm giàu vi chất: Rau xanh đậm, đậu, hạt, ngũ cốc nguyên cám, sữa, cá, hải sản. Đây là cách quan trọng để bù lại phần khoáng mà nước không cung cấp.

Những người ăn chay trường, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, người có bệnh lý dạ dày nên trao đổi với bác sĩ về việc kiểm tra và bổ sung vitamin B12, canxi, magie, đặc biệt nếu gia đình dùng gần như hoàn toàn nước RO.

“Thay vì chỉ đặt câu hỏi “nước có đủ sạch không”, chúng ta nên tự hỏi thêm: “Nước mình uống mỗi ngày có đang hỗ trợ hay âm thầm bào mòn sức khỏe về lâu dài?”. Khi biết cân bằng giữa độ sạch và hàm lượng khoáng, nước sẽ thực sự trở thành người bạn đồng hành đúng nghĩa của sức khỏe, chứ không phải là một rủi ro tiềm ẩn khó nhận ra”, bác sĩ Hoàng chia sẻ.

Mời độc giả xem thêm video câu chuyện giống lúa mùa đến hạt gạo ngon nhất thế giới. Nguồn Nhân Dân

Hải Ninh

Nguồn Tri Thức & Cuộc Sống: https://kienthuc.net.vn/bac-si-nguyen-huy-hoang-nguy-co-khi-lam-dung-nuoc-tinh-khiet-post1613715.html