Bài 2: Khi công viên thành 'sân khấu mở' của đô thị

Từ việc nhìn nhận công viên như một không gian văn hóa mới, vấn đề tiếp theo là làm thế nào để không gian ấy thực sự có sức sống và thu hút con người. Công nghệ đang tạo ra một lớp trải nghiệm mới cho công viên, khi ánh sáng, mặt nước, âm thanh, trình chiếu và nghệ thuật số có thể biến không gian xanh thành một “sân khấu mở” của đô thị. Đây cũng là điểm khởi đầu để công viên bước vào câu chuyện du lịch và kinh tế đêm.

Công viên thông minh - Không gian văn hóa mới: Bài 1 - Công viên thông minh - Hạ tầng xanh hay hạ tầng mới của công nghiệp văn hóa? Công viên thông minh: Từ “lá phổi xanh” đến không gian đô thị đa chức năng

Khi công viên có thêm một “đời sống”

Sau khi hạ rào, tháo dỡ các ranh giới cứng, công viên Bách Thảo (Hà Nội) tạo không gian công cộng thông thoáng, kết nối trực tiếp với các tuyến phố trung tâm, phục vụ nhân dân vui chơi, thể thao. Ảnh: Tuấn Đông

Sau khi hạ rào, tháo dỡ các ranh giới cứng, công viên Bách Thảo (Hà Nội) tạo không gian công cộng thông thoáng, kết nối trực tiếp với các tuyến phố trung tâm, phục vụ nhân dân vui chơi, thể thao. Ảnh: Tuấn Đông

Một công viên truyền thống thường được thiết kế và vận hành theo những chức năng tương đối ổn định: cây xanh, nghỉ ngơi, thể dục, vui chơi, cảnh quan. Nhưng khi công nghệ được tích hợp với thiết kế và nội dung, cùng một không gian có thể tạo ra những trải nghiệm khác nhau theo thời gian.

Ban ngày, đó vẫn là nơi người dân đi bộ, tập thể dục, vui chơi. Nhưng khi màn đêm xuống, ánh sáng, âm thanh, mặt nước và nghệ thuật trình diễn có thể tạo nên một diện mạo khác.

Đây là bước chuyển quan trọng về cách sử dụng không gian công cộng. Giá trị của công viên không còn chỉ được tính bằng diện tích cây xanh hay số lượng người sử dụng vào ban ngày, mà còn ở khả năng tạo ra những trải nghiệm mới mà không cần thay đổi căn bản cấu trúc không gian.

Tại tọa đàm “Quản lý công viên, cây xanh thông minh và đài phun nước thế hệ mới” diễn ra mới đây tại Hà Nội, PGS.TS. Vũ Thị Vinh, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, nhìn công viên thông minh như một xu thế tất yếu trong đổi mới không gian công cộng xanh và nâng cao chất lượng sống đô thị. Trong khi đó, PGS.TS. Lương Tú Quyên, Khoa Quy hoạch đô thị và nông thôn, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, cũng đặt vấn đề công viên thông minh trong mối quan hệ giữa hạ tầng xanh và tối ưu hóa trải nghiệm sống của cư dân.

Những cách tiếp cận này cho thấy “trải nghiệm” cần được coi là một thành tố của công viên thông minh, chứ không phải sản phẩm phụ của công nghệ.

TS.KTS. Lê Thị Bích Thuận, Trưởng ban Khoa học công nghệ, Hiệp hội Công viên cây xanh Việt Nam. Ảnh: Tuấn Đông

TS.KTS. Lê Thị Bích Thuận, Trưởng ban Khoa học công nghệ, Hiệp hội Công viên cây xanh Việt Nam. Ảnh: Tuấn Đông

TS.KTS. Lê Thị Bích Thuận, Trưởng ban Khoa học công nghệ, Hiệp hội Công viên cây xanh Việt Nam, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng, nhấn mạnh yêu cầu tổ chức không gian công viên, vườn hoa theo hướng sử dụng cho mọi người. Điều này đặt ra một nguyên tắc quan trọng: mọi công nghệ được đưa vào công viên cuối cùng phải quay trở lại phục vụ con người và khả năng tiếp cận không gian của cộng đồng.

Bởi vậy, công viên thông minh không phải là nơi người dân đến để “xem công nghệ”. Công nghệ phải khiến họ muốn ở lại lâu hơn, trải nghiệm nhiều hơn và tương tác nhiều hơn với không gian.

Ánh sáng và mặt nước: từ cảnh quan thành nội dung

Nếu công nghệ quản lý làm cho công viên vận hành hiệu quả hơn thì công nghệ trình diễn có thể làm thay đổi cách con người cảm nhận không gian.

Một trong những hướng nổi bật là chiếu sáng thông minh và 3D Mapping.

KS. Đặng Phan Điệp, Tổng Giám đốc Công ty CP Lumina X, đề xuất ứng dụng chiếu sáng thông minh 3D Mapping tại các công viên nhằm phát triển kinh tế đêm, công nghiệp văn hóa và lễ hội. Điểm đáng chú ý trong đề xuất này không nằm ở bản thân thiết bị chiếu sáng, mà ở việc biến ánh sáng thành phương tiện kể chuyện.

Một mặt phẳng kiến trúc, một hàng cây, quảng trường hay mặt nước, khi được lập trình ánh sáng và kết hợp hình ảnh, âm nhạc, có thể trở thành một không gian trình diễn. Nếu nội dung trình chiếu được xây dựng từ lịch sử, ký ức đô thị, nghệ thuật hoặc đặc trưng văn hóa địa phương, công nghệ bắt đầu tạo ra giá trị vượt khỏi chức năng kỹ thuật.

Khi đó, một công viên có thể có “chương trình” thay vì chỉ có “cảnh quan”.

Mặt nước cũng đang được nhìn theo hướng tương tự.

Một mặt phẳng kiến trúc, một hàng cây, quảng trường hay mặt nước, khi được lập trình ánh sáng và kết hợp hình ảnh, âm nhạc, có thể trở thành một không gian trình diễn. Ảnh: Tuấn Đông

Một mặt phẳng kiến trúc, một hàng cây, quảng trường hay mặt nước, khi được lập trình ánh sáng và kết hợp hình ảnh, âm nhạc, có thể trở thành một không gian trình diễn. Ảnh: Tuấn Đông

Ông Hồ Gia Từ, Chủ tịch Công ty Đài phun nước Hằng Nguyên Giang Tô, Trung Quốc, đề cập vai trò của đài phun nước thế hệ mới đối với công viên, vườn hoa và cảnh quan nước đô thị. Trong khi ThS. Phan Thanh Mai, Chánh Văn phòng Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, đặt đài phun nước thông minh trong chiến lược tạo dựng không gian văn hóa nghệ thuật, giải trí và kết nối cộng đồng.

Đáng chú ý hơn, ThS.KTS. Nguyễn Thị Hồng Diệp, Phòng Nghiên cứu và Phát triển đô thị (VIUP), Phó Ban Khoa học công nghệ - Hiệp hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, tiếp cận “vũ điệu nước” từ góc độ kinh tế đêm và phát triển du lịch Thủ đô thông qua mô hình không gian công cộng thông minh.

Như vậy, ánh sáng và mặt nước đang chuyển từ những thành phần tạo cảnh quan thành những phương tiện sản xuất trải nghiệm.

Đây là điểm có thể tạo ra sự khác biệt giữa các công viên. Cây xanh đẹp có thể tạo nên một không gian dễ chịu, nhưng một chương trình trình diễn ánh sáng có câu chuyện riêng, một màn nước được thiết kế gắn với âm nhạc hoặc một lễ hội được tổ chức định kỳ có thể tạo nên lý do để người dân quay trở lại.

Vấn đề vì thế không còn là “đưa công nghệ gì vào công viên”, mà là công nghệ ấy có thể kể câu chuyện gì.

Từ công nghệ trình diễn đến giá trị văn hóa

Sự chuyển dịch này đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững; đồng thời nhấn mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển văn hóa.

Nếu công nghệ chỉ tạo ra hiệu ứng thị giác, giá trị sẽ nhanh chóng suy giảm khi sự mới lạ qua đi. Nhưng nếu công nghệ được đặt trong một hệ thống nội dung, nó có thể giúp những giá trị văn hóa vốn khó tiếp cận trở nên sinh động hơn.

Một câu chuyện lịch sử có thể được kể bằng hình ảnh trên mặt nước. Một di sản có thể được tái hiện bằng trình chiếu ánh sáng. Một tác phẩm âm nhạc có thể được kết hợp với cảnh quan. Một lễ hội truyền thống có thể có thêm lớp trải nghiệm số.

Đây chính là nơi công viên có thể gặp công nghiệp văn hóa.

Tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của ngành VHTTDL, ngày 9.7.2026, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý theo lĩnh vực sang tư duy phát triển theo chuỗi giá trị, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội, giá trị gia tăng và mức đóng góp vào tăng trưởng làm thước đo.

Đặt trong lĩnh vực công viên, cách tiếp cận này cho thấy cần nhìn nhận công viên không chỉ là không gian cây xanh, cảnh quan mà còn là nơi tích hợp các giá trị văn hóa, du lịch, nghệ thuật, công nghệ và dịch vụ, qua đó hình thành những trải nghiệm và giá trị mới cho cộng đồng.

Bên cạnh đó, tại cuộc họp ngày 11.8.2026 về xây dựng dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh yêu cầu cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh này, không gian công cộng có thể trở thành một “mặt bằng sáng tạo”, nơi nghệ thuật, công nghệ, sự kiện và du lịch cùng hội tụ, đồng thời mở rộng cơ hội để người dân tiếp cận và thụ hưởng các giá trị văn hóa.

Nhưng cũng chính ở đây xuất hiện ranh giới cần được kiểm soát.

Công viên không thể biến thành một địa điểm sự kiện thuần túy. Việc khai thác công nghệ, trình diễn hay dịch vụ phải bảo đảm chức năng công cộng, không làm suy giảm không gian xanh, không gây ảnh hưởng quá mức đến cư dân và không biến văn hóa thành lớp “trang trí” cho hoạt động thương mại.

PGS.TS. Tạ Quỳnh Hoa, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Ảnh: Tuấn Đông

PGS.TS. Tạ Quỳnh Hoa, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Ảnh: Tuấn Đông

PGS.TS. Tạ Quỳnh Hoa, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, khi tiếp cận công viên thông minh từ khung tích hợp giữa thiết kế, công nghệ và quản lý không gian xanh đô thị, cũng cho thấy công nghệ cần được đặt trong một cấu trúc tổng thể chứ không thể tách rời quy hoạch và thiết kế.

Cùng quan điểm về tính hệ thống, TS. Vũ Thị Quyền, Khoa Công nghệ Ứng dụng, Trường Đại học Công nghệ Văn Lang, đặt vấn đề đổi mới quản lý hệ thống công viên, cây xanh theo chu trình tuần hoàn khép kín, từ chăm sóc cây đến quản trị công viên thông minh. Các nghiên cứu về tự làm sạch hồ, xử lý nước, hệ sinh thái cảnh quan và chiếu sáng xanh cũng cho thấy trải nghiệm chỉ bền vững khi nền tảng môi trường và vận hành được bảo đảm.

Như vậy, “sân khấu mở” của công viên không phải một sân khấu theo nghĩa vật lý. Đó là khả năng biến toàn bộ không gian công cộng thành một môi trường trải nghiệm, trong đó cảnh quan là nền, công nghệ là phương tiện và nội dung văn hóa là yếu tố tạo nên sự khác biệt.

Một không gian, nhiều lớp giá trị

Từ đây có thể nhìn thấy một khả năng lớn hơn của công viên thông minh.

Một không gian vốn chủ yếu phục vụ đời sống hàng ngày có thể đồng thời trở thành nơi tổ chức hoạt động văn hóa, một điểm dừng trong hành trình du lịch. Ảnh: Tuấn Đông

Một không gian vốn chủ yếu phục vụ đời sống hàng ngày có thể đồng thời trở thành nơi tổ chức hoạt động văn hóa, một điểm dừng trong hành trình du lịch. Ảnh: Tuấn Đông

Một không gian vốn chủ yếu phục vụ đời sống hàng ngày có thể đồng thời trở thành nơi tổ chức hoạt động văn hóa, một điểm dừng trong hành trình du lịch, một địa điểm vui chơi về đêm, một nơi thử nghiệm nghệ thuật số, thậm chí là một “sân khấu” để quảng bá câu chuyện của đô thị.

Nhưng để điều đó xảy ra, không thể chỉ đầu tư vào thiết bị. Cần có người sáng tạo nội dung, nghệ sĩ, nhà thiết kế, chuyên gia công nghệ, đơn vị vận hành và cơ chế quản lý phù hợp. Quan trọng hơn, mỗi đô thị phải trả lời được câu hỏi: công viên của mình có câu chuyện gì để kể?

Đó có thể là lịch sử của một thành phố, ký ức của một khu phố, một di sản, một dòng sông, một lễ hội, một nhân vật văn hóa hay đơn giản là một bản sắc riêng được hình thành từ đời sống cộng đồng.

Khi câu chuyện ấy đủ rõ, công nghệ mới có “đất” để phát huy.

Và khi một công viên có thể tạo ra lý do để người dân đến vào buổi tối, ở lại lâu hơn, chi tiêu cho những dịch vụ phù hợp và chia sẻ trải nghiệm, câu chuyện sẽ bước sang một tầng khác: công viên không chỉ tạo giá trị văn hóa mà bắt đầu tham gia vào chuỗi giá trị kinh tế của đô thị.

Đó chính là vấn đề cần được tiếp tục giải quyết ở chuyên đề tiếp theo: làm thế nào biến những trải nghiệm văn hóa trong công viên thành sản phẩm du lịch và kinh tế đêm có sức sống, nhưng vẫn giữ được bản chất của một không gian công cộng?

(còn nữa)

Bài, ảnh: TUẤN ĐÔNG

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-minh-do-thi/bai-2-khi-cong-vien-thanh-san-khau-mo-cua-do-thi-260088.html