Bảo đảm ngân sách cho vùng dân tộc thiểu số được phân bổ đúng, hiệu quả

Thảo luận tại hội trường về dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), ĐBQH Hoàng Văn Tuyên (TP. Hải Phòng) nhấn mạnh, ngân sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần được phân bổ đúng nơi cần, đầu tư đồng bộ, bảo đảm vận hành sau đầu tư và minh bạch kết quả. Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị làm rõ tại điểm a khoản 2 Điều 42 về định mức phân bổ phải xét đến mức độ tiếp cận dịch vụ cơ bản và chi phí cung ứng dịch vụ ở địa bàn dân cư phân tán, địa hình khó khăn.

Đại biểu Hoàng Văn Tuyên tán thành sự cần thiết ban hành Luật nhằm thống nhất quản lý ngân sách nhà nước và đầu tư công, nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực. Từ thực tiễn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đại biểu tham gia ý kiến về cơ chế phân bổ ngân sách, bố trí vốn đầu tư công và bảo đảm nguồn lực thực hiện chính sách dân tộc.

ĐBQH Hoàng Văn Tuyên (TP. Hải Phòng) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy

ĐBQH Hoàng Văn Tuyên (TP. Hải Phòng) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Phân bổ ngân sách tương xứng với mức thiếu hụt dịch vụ

Đại biểu Hoàng Văn Tuyên tán thành quy định tại Điều 42 dự thảo Luật về ưu tiên phân bổ ngân sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Tuy nhiên, khi xác định số bổ sung cân đối, đại biểu đề nghị tính đầy đủ hơn mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản và chi phí thực hiện nhiệm vụ ở từng địa bàn.

“Hai xã có số dân gần bằng nhau, nhưng một xã dân cư tập trung, giao thông thuận lợi; xã còn lại có nhiều thôn, bản xa trung tâm, đường đi lại khó khăn và phải duy trì nhiều điểm trường. Để bảo đảm việc học tập, chăm sóc sức khỏe cho người dân, xã thứ hai có thể cần kinh phí cao hơn. Nếu định mức phân bổ chưa tính đủ những khác biệt này, địa bàn khó khăn hơn vẫn có thể thiếu nguồn để thực hiện nhiệm vụ được giao”, đại biểu phân tích.

Nhấn mạnh Nghị quyết số 46/2026/QH16 đã yêu cầu phân bổ vốn chương trình mục tiêu quốc gia gắn với mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản, đại biểu đề nghị nghiên cứu vận dụng nguyên tắc này khi xác định số bổ sung cân đối ngân sách nói chung. Bởi kinh phí duy trì trường học, trạm y tế và các dịch vụ thiết yếu không chỉ nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia.

Đồng thời, đề nghị làm rõ tại điểm a khoản 2 Điều 42 việc xây dựng định mức phân bổ phải xét đến mức độ tiếp cận dịch vụ cơ bản và chi phí cung ứng dịch vụ ở địa bàn dân cư phân tán, địa hình khó khăn. Khả năng cân đối ngân sách địa phương cũng phải được xem xét theo các quy định hiện có.

Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và HĐND cấp tỉnh cần lượng hóa phù hợp các yếu tố này trên cơ sở số liệu thực tế; đồng thời, tránh tính trùng những nhiệm vụ đã có kinh phí bổ sung có mục tiêu. Mục tiêu là địa bàn thiếu nhiều dịch vụ thiết yếu hơn được phân bổ nguồn lực tương xứng.

Không để công trình hoàn thành thiếu kinh phí vận hành

Về bố trí vốn đầu tư công tại Điều 47 và Điều 49, đại biểu Hoàng Văn Tuyên nhất trí với nguyên tắc ưu tiên dự án hoàn thành, dự án chuyển tiếp và hạn chế đầu tư dàn trải. Đại biểu góp ý thêm: khi lập kế hoạch đầu tư ở vùng khó khăn, cần xem xét mối liên hệ giữa các công trình để công trình hoàn thành có thể phục vụ người dân.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Khánh Duy

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Khánh Duy

“Chẳng hạn, một tuyến đường đã xây dựng xong nhưng thiếu cây cầu hoặc đoạn nối cuối cùng thì người dân vẫn khó đi lại. Một công trình cấp nước đã có hệ thống đầu mối nhưng đường ống chưa đến khu dân cư thì nhiều hộ vẫn chưa có nước sử dụng. Những hạng mục này có thể thuộc các dự án khác nhau, do các cơ quan khác nhau quản lý. Nếu chỉ xem xét từng dự án riêng lẻ, rất dễ xảy ra tình trạng đã đầu tư vốn nhưng cả hệ thống chưa phát huy hiệu quả”, đại biểu nêu thực tế.

Điều 47 đã quy định nội dung báo cáo kế hoạch tài chính 5 năm và lựa chọn danh mục, mức vốn đầu tư công; Điều 49 đã có thứ tự ưu tiên bố trí vốn. Vì vậy, đề nghị nghiên cứu bổ sung tại điểm d khoản 2 Điều 47 yêu cầu thuyết minh đối với những nhóm công trình thiết yếu cần hoàn thành đồng bộ: hạng mục còn thiếu, nguồn vốn dự kiến, khả năng cân đối và thời điểm có thể đưa vào sử dụng.

Khi lựa chọn dự án, địa phương cần sắp xếp thứ tự đầu tư theo khả năng hoàn thành và khai thác đồng bộ, nhưng vẫn phải tuân thủ điều kiện, thứ tự ưu tiên đã được Luật quy định. Việc này thực hiện trong hồ sơ kế hoạch hiện có, không đặt thêm thủ tục mới.

Về kinh phí vận hành, bảo trì công trình sau đầu tư tại Điều 78 và Điều 82, đại biểu đề nghị quan tâm thêm đến điều kiện vận hành công trình sau khi hoàn thành, nhất là tại các xã miền núi có khả năng cân đối ngân sách còn hạn chế. Có vốn xây dựng mới là bước đầu; sau khi bàn giao phải xác định được đơn vị quản lý và nguồn kinh phí vận hành, bảo trì.

Theo đại biểu, một trường học cần kinh phí bảo trì cơ sở vật chất; trạm y tế cần nhân lực và kinh phí hoạt động; hệ thống cấp nước cần có đơn vị quản lý, bảo dưỡng. Có công trình được đầu tư từ ngân sách cấp trên hoặc chương trình mục tiêu quốc gia, nhưng sau khi hoàn thành lại giao cho cấp xã hoặc đơn vị sự nghiệp quản lý. Nếu không tính trước khả năng bố trí kinh phí theo phân cấp và nguồn thu hợp pháp của đơn vị, công trình có thể gặp khó khăn khi đưa vào sử dụng.

Điều 78 đã yêu cầu xác định sơ bộ chi phí vận hành trong hồ sơ chủ trương đầu tư đối với những dự án thuộc diện thực hiện bước này. Đại biểu đề nghị làm rõ thêm tại khoản 1 Điều 82: khi quyết định đầu tư cần xem xét phương án tiếp nhận, quản lý, khai thác công trình và khả năng bảo đảm kinh phí vận hành, bảo trì. Yêu cầu này đặc biệt cần thiết đối với dự án không phải quyết định chủ trương đầu tư.

Đồng thời, đại biểu đề nghị Chính phủ quy định nội dung phù hợp trong báo cáo nghiên cứu khả thi theo khoản 2 Điều 82, tùy quy mô, tính chất dự án; không phát sinh thủ tục thẩm định riêng và không yêu cầu cam kết trước toàn bộ kinh phí nhiều năm.

“Điều cần làm rõ là sau khi công trình hoàn thành, cơ quan, đơn vị nào tiếp nhận, nguồn nào dự kiến bảo đảm hoạt động theo quy định. Tính trước việc sử dụng sẽ giúp đồng vốn đầu tư phát huy hiệu quả lâu dài”, đại biểu nhấn mạnh.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Khánh Duy

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Khánh Duy

Minh bạch và ưu tiên nguồn lực cho chính sách dân tộc

Đại biểu Hoàng Văn Tuyên tán thành việc dự thảo đã quy định cơ sở dữ liệu ngân sách và đầu tư công tại Điều 16, hồ sơ dự toán trình Quốc hội tại Điều 57 và đánh giá hiệu quả chi ngân sách tại Điều 87. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 57 mới yêu cầu nêu các ưu tiên chính sách, mục tiêu, chương trình quan trọng, chưa nói rõ việc thuyết minh tổng hợp nguồn lực dành cho chính sách dân tộc. Đây là thông tin cần thiết để Quốc hội xem xét mức độ ưu tiên trong phân bổ ngân sách.

Đại biểu phân tích, kinh phí thực hiện chính sách dân tộc được bố trí qua nhiều bộ, ngành, địa phương, gồm cả chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên và các chương trình mục tiêu quốc gia. Riêng chương trình mục tiêu quốc gia đã bao gồm cả hai loại chi.

“Nếu cộng nguồn ngân sách trung ương bổ sung cho địa phương với chính số tiền địa phương sử dụng từ khoản bổ sung ấy, sẽ bị tính trùng. Ngược lại, nếu chỉ nhìn số vốn của một chương trình, có thể bỏ sót các nhiệm vụ thực hiện từ nguồn ngân sách khác”, đại biểu lưu ý.

Đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung tại khoản 3 Điều 57 yêu cầu Chính phủ thuyết minh tổng hợp nguồn lực dự kiến bố trí cho những nhiệm vụ, chính sách dân tộc trọng yếu; phân biệt theo loại chi, nguồn vốn và cấp ngân sách, không cộng trùng kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia. Cùng với số kinh phí, cần nêu một số kết quả dự kiến có thể kiểm chứng, chẳng hạn số hộ được tiếp cận nước sinh hoạt hoặc số điểm trường được cải thiện điều kiện học tập.

Việc tổng hợp sử dụng hệ thống dữ liệu và chế độ báo cáo hiện có, không lập thêm hệ thống riêng cho cấp xã. Qua từng năm, Quốc hội có thể đối chiếu nguồn lực đã bố trí, kết quả chi và mức độ cải thiện đời sống người dân. Đại biểu nêu rõ, đề nghị này nhằm làm rõ thông tin phục vụ quyết định, giám sát ngân sách, không đặt ra một cơ chế phân bổ mới.

Về ưu tiên ngân sách cho chính sách dân tộc, khoản 6 Điều 9 dự thảo quy định ưu tiên bố trí ngân sách cho chi đầu tư phát triển để thực hiện nhiều chính sách quan trọng, trong đó có chính sách dân tộc. Tuy nhiên, theo đại biểu, nhiều nhiệm vụ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như duy trì trường lớp, chăm sóc sức khỏe và thực hiện chế độ an sinh lại cần kinh phí chi thường xuyên. Nếu chỉ đọc khoản 6 Điều 9, có thể hiểu việc ưu tiên chủ yếu dành cho đầu tư xây dựng, trong khi chất lượng dịch vụ công còn phụ thuộc vào nguồn kinh phí để duy trì hoạt động.

Đại biểu ghi nhận khoản 3 Điều 46 đã quy định nguyên tắc ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho các chính sách lớn và các vùng lãnh thổ, áp dụng chung cho cả chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Vì vậy, không thể nói dự thảo chưa có nguyên tắc ưu tiên đối với chi thường xuyên. Điều cần nghiên cứu là làm cho cách thể hiện ở khoản 6 Điều 9 rõ ràng, thống nhất hơn với Điều 46.

Đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 6 Điều 9 theo hướng ưu tiên bố trí ngân sách phù hợp với tính chất từng nhiệm vụ, bao gồm cả chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên để thực hiện chính sách dân tộc và các chính sách xã hội quan trọng.

“Tôi không đề nghị ấn định một tỷ lệ chi cứng hoặc bổ sung nhiệm vụ chi mới; mức bố trí cụ thể vẫn phải căn cứ khả năng cân đối và được cơ quan có thẩm quyền quyết định. Như vậy, nguyên tắc ưu tiên được thể hiện rõ từ lập kế hoạch tài chính 5 năm đến quyết định dự toán hằng năm”, đại biểu Hoàng Văn Tuyên nhấn mạnh.

Trang Nhung

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/bao-dam-ngan-sach-cho-vung-dan-toc-thieu-so-duoc-phan-bo-dung-hieu-qua-10442056.html