Bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật khi xây dựng Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh
Giao dịch hàng hóa phái sinh là hoạt động có tính chất đặc thù, vừa gắn với thị trường hàng hóa, vừa có những đặc điểm của thị trường tài chính. Hoạt động này liên quan trực tiếp đến việc xác lập, chuyển giao và quản trị rủi ro giá hàng hóa; đồng thời đòi hỏi cơ chế quản lý chặt chẽ đối với chủ thể tham gia, sản phẩm giao dịch, hoạt động môi giới, ký quỹ, thanh toán và bù trừ.
Vì vậy, việc bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về giao dịch hàng hóa phái sinh không chỉ là xây dựng các quy định về điều kiện kinh doanh hay quyền tham gia thị trường của từng chủ thể mà quan trọng hơn là phải thiết kế được một khuôn khổ pháp lý thống nhất, bảo đảm các hoạt động có cùng bản chất được quản lý theo những nguyên tắc tương thích, dưới một đầu mối quản lý thị trường thống nhất, gắn với cơ quan đang quản lý hàng hóa cơ sở và hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa.
Thông tư số 40/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh giá cả hàng hóa của ngân hàng thương mại (sau đây gọi là Thông tư 40/2016/TT-NHNN) được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho ngân hàng cung cấp công cụ phòng ngừa rủi ro biến động giá hàng hóa cho khách hàng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thị trường và những thay đổi trong hệ thống pháp luật, phạm vi điều chỉnh của Thông tư 40/2016/TT-NHNN đã bộc lộ giới hạn: một văn bản quy phạm ở cấp thông tư nhưng đang điều chỉnh kênh tiếp cận thị trường phái sinh quốc tế, nằm ngoài cơ chế giám sát thị trường chung, nhất là mối quan hệ giữa quản lý hoạt động ngân hàng và quản lý thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh.
Hiện nay, Điều 112 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định về hoạt động kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh của ngân hàng thương mại; Điều 37 Nghị định số 302/2026/NĐ-CP quy định cơ chế để thương nhân Việt Nam tham gia mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài thông qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam đã đăng ký liên thông. Trong khi đó, dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh đang được xây dựng nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý chung cho hoạt động này.
Những thay đổi đó đặt ra yêu cầu xử lý mối quan hệ giữa pháp luật điều chỉnh hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh và pháp luật chuyên ngành điều chỉnh các chủ thể đặc thù như doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng. Vấn đề cốt lõi là bảo đảm cùng một hoạt động trên cùng một thị trường phải chịu sự điều chỉnh của những nguyên tắc thống nhất, không phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động của chủ thể tham gia. Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật và hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW và Kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, phân định chưa rõ thẩm quyền và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Những vấn đề pháp lý đặt ra từ sự tham gia của ngân hàng thương mại
Thẩm quyền quản lý hoạt động ngân hàng trong lĩnh vực giao dịch hàng hóa phái sinh chưa rõ ràng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ngân hàng và tổ chức tín dụng không ghi nhận khái niệm “tài sản tài chính khác”, “sản phẩm phái sinh giá cả hàng hóa”.
Thẩm quyền quản lý hoạt động ngân hàng và quản lý thị trường hàng hóa phái sinh chưa rõ ràng: Điều 112 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định ngân hàng thương mại được kinh doanh, cung ứng cho khách hàng các sản phẩm phái sinh về lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản; đồng thời giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định phạm vi kinh doanh, điều kiện và thủ tục chấp thuận.
Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ngân hàng và tổ chức tín dụng không ghi nhận khái niệm “tài sản tài chính khác”, “sản phẩm phái sinh giá cả hàng hóa” nên thẩm quyền quản lý hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng không đồng nghĩa với thẩm quyền điều chỉnh toàn bộ hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh và tổ chức thị trường. Đây là một khoảng trống, một điểm mờ của hệ thống pháp luật hiện hành về vấn đề này.
Cần phân biệt hai phạm vi điều chỉnh: pháp luật về các tổ chức tín dụng điều chỉnh điều kiện, phạm vi hoạt động, an toàn vốn và quản trị rủi ro của ngân hàng; còn pháp luật về giao dịch hàng hóa phái sinh điều chỉnh sản phẩm, phương thức giao dịch, điều kiện tham gia thị trường, tư cách thành viên, ký quỹ, thanh toán, bù trừ, quản lý vị thế và giám sát giao dịch. Vì vậy, việc ngân hàng được chấp thuận thực hiện nghiệp vụ phái sinh không đương nhiên đồng nghĩa với việc ngân hàng được thực hiện mọi hoạt động trung gian hoặc đưa khách hàng tham gia thị trường giao dịch tập trung.
Trong quá trình thẩm tra sơ bộ dự án Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh, Ủy ban Kinh tế và Tài chính và một số đơn vị khác của Quốc hội đã lưu ý về sự khác biệt trong phạm vi hoạt động được phép của các tổ chức tín dụng, cũng như khả năng phát sinh giao thoa giữa thẩm quyền chấp thuận nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước và thẩm quyền cấp phép, quản lý hoạt động trên thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh của Bộ Công Thương[1]. Sự lưu ý này là có cơ sở thực tiễn, bởi một chủ thể có thể đồng thời chịu sự quản lý về điều kiện hoạt động ngân hàng và chịu sự quản lý khi tham gia một thị trường có tổ chức.
Hai hệ thống pháp luật này có phạm vi điều chỉnh khác nhau và cần được áp dụng đồng thời. Điều kiện hoạt động theo pháp luật ngân hàng không thể thay thế các điều kiện tham gia thị trường hàng hóa phái sinh; ngược lại, việc đáp ứng quy tắc của thị trường hàng hóa phái sinh cũng không miễn trừ ngân hàng khỏi các yêu cầu an toàn theo pháp luật về tổ chức tín dụng.
Sự khác biệt giữa giao dịch OTC với hoạt động trung gian thực hiện lệnh mua bán hợp đồng tiêu chuẩn: Theo Điều 3 Thông tư 40/2016/TT-NHNN, ngân hàng thương mại được thực hiện hai hình thức cung ứng sản phẩm phái sinh giá cả hàng hóa: giao kết hợp đồng không tiêu chuẩn với khách hàng trên thị trường phi tập trung (OTC) và nhận, thực hiện lệnh mua bán hợp đồng tiêu chuẩn của khách hàng thông qua Sở giao dịch hàng hóa nước ngoài.
Hai hoạt động này có bản chất pháp lý khác nhau. Trong giao dịch OTC, ngân hàng là một bên trực tiếp của hợp đồng, xác lập quyền và nghĩa vụ với khách hàng và có thể thực hiện giao dịch đối ứng với đối tác để quản trị rủi ro. Trong khi đó, đối với hợp đồng tiêu chuẩn trên Sở giao dịch hàng hóa (Sở GDHH), ngân hàng thực hiện việc tiếp nhận, chuyển lệnh để khách hàng tham gia thị trường tập trung, nơi giao dịch phải tuân thủ quy tắc hợp đồng, điều kiện thành viên và cơ chế giám sát của Sở GDHH. Sự khác biệt này không đơn thuần là khác nhau về nghiệp vụ mà nó quyết định tư cách pháp lý của ngân hàng, điều kiện hoạt động, trách nhiệm đối với khách hàng và cơ chế giám sát và do vậy đòi hỏi phải có cơ chế quản lý phù hợp với từng hoạt động. Do vậy, cần tránh đồng nhất quyền phòng ngừa rủi ro của ngân hàng với quyền cung cấp dịch vụ trung gian để khách hàng tham gia thị trường giao dịch tập trung.
Đặc biệt, Điều 37 Nghị định số 302/2026/NĐ-CP đã quy định thương nhân Việt Nam tham gia mua bán hàng hóa qua Sở GDHH ở nước ngoài thông qua Sở GDHH ở Việt Nam đã đăng ký liên thông; tổ chức tín dụng thực hiện dịch vụ thanh toán, chuyển tiền theo phạm vi được phép. Trong khi đó, cơ chế nhận và chuyển lệnh riêng qua ngân hàng theo Thông tư 40/2016/TT-NHNN vẫn tồn tại song song, tạo ra những phương thức tiếp cận thị trường khác nhau.
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính đã đề cập đến thực trạng tồn tại đồng thời hai phương thức tiếp cận thị trường: thông qua Sở GDHH và thông qua ngân hàng chuyển tiếp lệnh tới Sở GDHH ở nước ngoài. Sự khác biệt này đã dẫn đến tình trạng cùng là hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh nhưng điều kiện tiếp cận, phương thức thực hiện và cơ chế quản lý lại không giống nhau. Đặc biệt, sản phẩm giao dịch thông qua ngân hàng có thể được tiếp cận theo phạm vi rộng hơn, trong khi sản phẩm được niêm yết trên Sở GDHH trong nước phải đáp ứng các điều kiện và quy trình riêng[2].
Hiện đang tồn tại đồng thời hai phương thức tiếp cận thị trường: thông qua Sở GDHH và thông qua ngân hàng chuyển tiếp lệnh tới Sở GDHH ở nước ngoài. Điều này đã dẫn đến tình trạng cùng là hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh nhưng điều kiện tiếp cận, phương thức thực hiện và cơ chế quản lý lại không giống nhau. (Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính)
Việc duy trì các kênh giao dịch với điều kiện và đầu mối quản lý khác nhau có thể dẫn đến phân tán dữ liệu, gây khó khăn cho việc theo dõi vị thế, kiểm soát rủi ro và giám sát toàn thị trường. Do đó, cần xác định rõ hoạt động trung gian đối với hợp đồng tiêu chuẩn phải tuân thủ khuôn khổ quản lý chung của thị trường giao dịch tập trung, không hình thành một kênh riêng chỉ vì chủ thể thực hiện là ngân hàng thương mại.
Mối quan hệ giữa luật điều chỉnh hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh và luật chuyên ngành: Một bài toán thể chế quan trọng khi xây dựng Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh là xử lý mối quan hệ giữa luật điều chỉnh hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh và luật chuyên ngành điều chỉnh các chủ thể đặc thù (như tổ chức tín dụng).
Việc xử lý vấn đề này không có nghĩa là đặt hai hệ thống pháp luật vào thế loại trừ nhau. Ngân hàng vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quy định đặc thù về điều kiện hoạt động, an toàn vốn, giới hạn, quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ theo pháp luật về tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, khi thực hiện giao dịch hàng hóa phái sinh, ngân hàng phải tuân thủ các quy tắc chung của thị trường như các chủ thể khác có cùng bản chất hoạt động.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy pháp luật phân biệt vai trò của ngân hàng khi cung ứng sản phẩm phái sinh OTC (là một bên trực tiếp của hợp đồng, xác lập quyền và nghĩa vụ với khách hàng và có thể thực hiện giao dịch đối ứng với đối tác để quản trị rủi ro) với hoạt động trung gian giao dịch hợp đồng tiêu chuẩn trên Sở GDHH (được cấp phép bởi cơ quan quản lý về giao dịch hàng hóa và tuân thủ khuôn khổ pháp lý chung). Tư cách tổ chức tín dụng không mặc nhiên tạo ra ngoại lệ đối với các điều kiện tham gia và quy tắc chung của thị trường.
…và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về giao dịch hàng hóa phái sinh
Bổ sung quy định chung về áp dụng pháp luật, không thiết kế cơ chế riêng cho từng nhóm chủ thể đặc thù
Đề xuất bỏ điều 45 về doanh nghiệp nhà nước và Điều 46 về tổ chức tín dụngtrong dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh, đồng thời bổ sung quy định chung về áp dụng pháp luật. Mọi tổ chức, cá nhân tham gia thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh phải tuân thủ các quy định của Luật này.
Từ góc độ kỹ thuật lập pháp, không nhất thiết phải có Điều 45 về doanh nghiệp nhà nước (hoặc Điều 46 riêng về sự tham gia của tổ chức tín dụng) trong dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Việc quy định riêng cho từng nhóm chủ thể có thể dẫn đến cách hiểu rằng mỗi nhóm được áp dụng một cơ chế tham gia thị trường khác nhau, trong khi yêu cầu đặt ra là thống nhất quy tắc đối với cùng một loại hoạt động giao dịch hàng hóa.
Do đó, nên bỏ điều 45 về doanh nghiệp nhà nước và Điều 46 về tổ chức tín dụng trong dự thảo Luật; đồng thời bổ sung điều về áp dụng pháp luật để phân định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật này với pháp luật chuyên ngành. Theo đó, pháp luật chuyên ngành điều chỉnh việc thành lập, tổ chức, điều kiện và phạm vi hoạt động của chủ thể; còn hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này phải tuân thủ các quy định chung của Luật này, kể cả khi chủ thể thực hiện là doanh nghiệp nhà nước hoặc tổ chức tín dụng. Điều này thể hiện rõ việc một tổ chức, cá nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành không có nghĩa là mọi hoạt động của chủ thể đó đều nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Nếu tổ chức, cá nhân đó tham gia vào thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh thì phải tuân thủ các quy định của Luật này. Đây là cơ sở để bảo đảm hai hệ thống pháp luật được áp dụng đồng thời trong phạm vi điều chỉnh của mỗi luật, không loại trừ hoặc thay thế nhau.
Xử lý Thông tư 40/2016/TT-NHNN đồng bộ với khuôn khổ pháp luật mới về giao dịch hàng hóa phái sinh
Khi Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh được thông qua và có hiệu lực, không nên tiếp tục duy trì cơ chế cung ứng sản phẩm phái sinh giá cả hàng hóa riêng cho ngân hàng theo Thông tư 40/2016/TT-NHNN. Quyền và nghĩa vụ tham gia thị trường của ngân hàng phải được xác định trên cơ sở pháp luật về các tổ chức tín dụng và khuôn khổ chung của Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh.
Theo đó, cần chấm dứt việc tiếp nhận giao dịch theo cơ chế riêng của Thông tư 40/2016/TT-NHNN kể từ thời điểm Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh có hiệu lực. Ngân hàng chỉ được thực hiện hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh theo pháp luật về giao dịch hàng hóa phái sinh mới và trong phạm vi được pháp luật về các tổ chức tín dụng cho phép. Các văn bản quy định chi tiết có liên quan cần được cơ quan có thẩm quyền rà soát, điều chỉnh để bảo đảm phù hợp với nguyên tắc này. Nhờ vậy, có thể xác lập rõ việc chuyển sang cơ chế pháp lý mới, tránh duy trì song song hai phương thức quản lý.
Bổ sung điều khoản chuyển tiếp đối với hoạt động phái sinh giá cả hàng hóa hiện hữu của ngân hàng
Việc chuyển sang khuôn khổ pháp luật về giao dịch hàng hóa phái sinh mới cần tính đến các hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán, giao dịch đối ứng và vị thế đang mở đã phát sinh theo Thông tư 40/2016/TT-NHNN. Do vậy, điều khoản chuyển tiếp trong dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh cần tập trung vào ba nội dung sau:
Thứ nhất, kể từ thời điểm Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh có hiệu lực, ngân hàng không tiếp tục ký kết hợp đồng mới, tiếp nhận lệnh mới hoặc thực hiện giao dịch mới theo cơ chế riêng của Thông tư 40/2016/TT-NHNN. Việc thực hiện hoạt động tiếp theo phải tuân thủ khuôn khổ pháp luật về giao dịch hàng hóa phái sinh mới và pháp luật về các tổ chức tín dụng.
Thứ hai, đối với hợp đồng đã giao kết trước thời điểm Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh có hiệu lực, các bên tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết và quy định pháp luật được áp dụng tại thời điểm giao kết. Việc xử lý nghĩa vụ thanh toán, giao dịch đối ứng và vị thế đang mở phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và an toàn của giao dịch.
Thứ ba, cần xác định thời hạn chuyển tiếp cụ thể, tương đương thời hạn 24 tháng áp dụng cho Sở giao dịch hàng hóa và thành viên hiện hữu[3] để ngân hàng rà soát, điều chỉnh hoạt động và đáp ứng các yêu cầu của khuôn khổ pháp luật mới. Thời hạn này chỉ nhằm xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình chuyển đổi, không phải là căn cứ để tiếp tục duy trì cơ chế giao dịch riêng theo Thông tư 40/2016/TT-NHNN. Vị thế phòng ngừa rủi ro đang mở của doanh nghiệp được gia hạn nối tiếp đến hết kỳ phòng ngừa đã xác định.
Tóm lại, sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng thương mại trên thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh có ý nghĩa đối với việc mở rộng công cụ quản trị rủi ro giá cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tham gia này cần được đặt trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất, bảo đảm phân định rõ thẩm quyền quản lý hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng thương mại và thẩm quyền quản lý thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh. Vấn đề cần giải quyết không phải là thiết kế một cơ chế riêng cho từng đối tượng cụ thể mà là xác lập nguyên tắc áp dụng pháp luật phù hợp với bản chất của từng hoạt động. Đây là hướng hoàn thiện pháp luật cần thiết nhằm khắc phục tình trạng một thị trường tồn tại nhiều cơ chế quản lý khác nhau và là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật, đồng thời tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể tham gia thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh.
Mục 6.9.5 Về tổ chức tín dụng tham gia giao dịch hàng hóa phái sinh. Báo cáo số 1237/BC-UBKTTC16 ngày 21/9/2026 thẩm tra sơ bộ dự án Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. ↑
Mục 6.9.5 Về tổ chức tín dụng tham gia giao dịch hàng hóa phái sinh (Điều 44) Báo cáo số 1237/BC-UBKTTC16 ngày 21/9/2026 thẩm tra sơ bộ dự án Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. ↑
Khoản 1 Điều 57 dự thảo Luật. ↑

