Bảo tồn, giữ gìn, phát huy nghề thủ công truyền thống của đồng bào Khmer
Về những phum, sóc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, không khó bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ cần mẫn bên khung dệt, những đôi tay thoăn thoắt với từng nan tre, sợi cỏ bàng. Mỗi sản phẩm làm ra không đơn thuần là một món hàng hóa, mà còn mang theo ký ức, tập quán, kỹ năng nghề và bản sắc văn hóa của cộng đồng. Trong nhịp sống hiện đại, bảo tồn nghề truyền thống đang đặt ra yêu cầu mới, vừa giữ được hồn cốt văn hóa, vừa đổi mới mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Bà Trương Thị Bạch Thủy tại cửa hàng giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống được khách hàng ưa chuộng. Ảnh: Mỹ Xuyên
Hồi sinh nghề đan đát truyền thống
Dù không còn hưng thịnh như trước, nghề đan đát của đồng bào Khmer ở xã Thuận Hòa, thành phố Cần Thơ vẫn được gìn giữ và từng bước phát triển nhờ những người tâm huyết với nghề. Trong đó, bà Trương Thị Bạch Thủy, Giám đốc Hợp tác xã mây tre đan Thủy Tuyết, là một trong những người góp phần đưa sản phẩm đan đát truyền thống đến gần hơn với thị trường.
Thuận Hòa là địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống, nghề đan đát đã hình thành từ lâu và nhiều người có tay nghề cao. Tuy nhiên, trước đây, các hộ chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ, sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, mẫu mã ít thay đổi nên giá trị kinh tế chưa cao, nghề đứng trước nguy cơ mai một.
Từ thực tế đó, bà Thủy thành lập hợp tác xã với mong muốn tập hợp những người làm nghề, tạo sự liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, đồng thời gắn nghề truyền thống với phát triển du lịch, dịch vụ. Theo bà Thủy, thành lập hợp tác xã để mọi người cùng chung tay, hợp tác, cùng có lợi. Khi được bà con tín nhiệm, tôi luôn cố gắng làm sao để tạo thu nhập ổn định cho mọi người và giữ được nghề truyền thống. Vào hợp tác xã, ai cũng có trách nhiệm, cùng nhau nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
Hiện nay, hợp tác xã có trên 500 sản phẩm cung ứng cho thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu. Ngoài sản xuất các mặt hàng tiêu dùng truyền thống như rổ, rá, thúng, nong, nia, cần xé, ghế nồi, mê bồ, nơm, lồng bàn, nôi, bàn ghế..., thì hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống như lồng gà, thúng, giỏ cá, đồ đặt cá... cũng được ra đời nhưng với phiên bản thu nhỏ, tạo nét độc đáo và được khách hàng ưa chuộng. Một số sản phẩm đã tiếp cận thị trường châu Âu. Hợp tác xã cũng phát triển các sản phẩm mây tre phục vụ homestay, khu nghỉ dưỡng và điểm du lịch, qua đó, mở rộng đầu ra cho sản phẩm và tạo thêm việc làm cho người dân.
Để nâng cao chất lượng, mẫu mã, bà Thủy tích cực nghiên cứu, sáng tạo sản phẩm mới, cải tiến quy trình sản xuất, rồi hướng dẫn lại cho các thành viên. Bà còn tham gia các lớp tập huấn về tài chính, tín dụng, hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, ứng dụng công nghệ thông tin và các chương trình kết nối kinh doanh. Những hoạt động này giúp người làm nghề có thêm kiến thức, mở rộng thị trường và thích ứng tốt hơn với yêu cầu mới.
Hơn 40 năm gắn bó với nghề, bà Lâm Thị Nết, ở ấp Phước Quới, xã Thuận Hòa cho rằng, nghề đan đát phù hợp với nhiều lứa tuổi. Đôi tay thoăn thoắt đưa từng nẹp tre đan xen, bà Nết chia sẻ, mỗi ngày có thể hoàn thành khoảng 4 chiếc cần xé, sau khi trừ chi phí, còn thu nhập khoảng 70.000 đồng. Điều đáng mừng là nếu trước đây, người dân phải chờ thương lái nhiều ngày mới đến thu gom sản phẩm thì nay, thông qua hợp tác xã, việc tiêu thụ thuận lợi hơn. Sản phẩm được thu mua thường xuyên, giúp người dân có nguồn thu ổn định. Hợp tác xã còn hỗ trợ tập huấn tay nghề, tạo nguồn vốn xoay vòng để các thành viên mua nguyên liệu sản xuất. “Tham gia hợp tác xã, bà con có điều kiện trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, cùng thống nhất giá bán, hạn chế tình trạng bị thương lái ép giá” – bà Nết nói.
Hợp tác xã hiện có hơn 30 xã viên và tạo việc làm cho hơn 60 hội viên phụ nữ ở khu vực lân cận, với thu nhập bình quân khoảng 4 - 5 triệu đồng/người/tháng. Không chỉ giúp người dân có việc làm tại quê nhà, nghề đan đát còn trở thành môi trường để truyền nghề cho thế hệ trẻ, góp phần gìn giữ một nét văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer.
Ông Võ Minh Luân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thuận Hòa đánh giá, những người tâm huyết như bà Trương Thị Bạch Thủy là nhân tố quan trọng trong quá trình khôi phục làng nghề. Những sản phẩm đan đát ngày nay không chỉ phục vụ đời sống mà còn được sáng tạo thành sản phẩm quà tặng, sản phẩm du lịch, tạo thêm giá trị kinh tế và văn hóa.
Đưa nghề đan cỏ bàng vươn xa
Tại vùng biên giới xã Ba Chúc, tỉnh An Giang, nghề đan cỏ bàng cũng là một nghề truyền thống gắn bó lâu đời với đời sống của đồng bào Khmer. Từ cây cỏ bàng quen thuộc, người dân tạo ra những chiếc đệm, túi xách, nón, giỏ, đồ gia dụng... vừa hữu ích, vừa mang đậm nét đặc trưng của vùng đất. Tuy nhiên, trước tác động của quá trình đô thị hóa và sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng, nghề đan cỏ bàng từng bước bị thu hẹp. Hiện còn gần 30 hộ gắn bó với nghề, chủ yếu là lao động nữ. Để duy trì nghề và nâng cao giá trị sản phẩm, địa phương đã chuyển hướng tổ chức sản xuất theo mô hình tổ hợp tác.
Bà Lưu Thị Mỹ Linh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ba Chúc cho biết, trước đây, người dân chủ yếu đan đệm, túi bàng theo phương thức nhỏ lẻ nên giá trị kinh tế chưa cao. Từ lợi thế về nguồn nguyên liệu và tay nghề của người dân, địa phương tổ chức đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ liên kết sản xuất, từng bước hình thành những sản phẩm phù hợp với thị trường. “Nhờ vậy, các sản phẩm từ cỏ bàng ngày càng đa dạng như túi thời trang, đồ gia dụng, chiếu, nệm, nón, giỏ xách, bao bì... Nhiều sản phẩm được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang các thị trường như châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc...” – bà Linh nói.
Trong quá trình hồi sinh nghề, bà Trần Thị Trang, chủ cơ sở Trung Trang ở ấp An Hòa A, xã Ba Chúc là một điển hình về sự tâm huyết với nghề truyền thống. Lớn lên bên những chiếc đệm cỏ bàng do mẹ làm, bà hiểu rõ những thăng trầm của nghề. Sau thời gian đi làm, tìm hiểu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, bà trở về quê với mong muốn đổi mới nghề đan cỏ bàng. Khởi đầu từ những chiếc giỏ cỏ bàng do hai mẹ con làm, bà Trang từng bước tìm tòi, học hỏi cách thiết kế trên mạng, tự học vẽ và sáng tạo thêm nhiều sản phẩm như túi xách, ba lô, ví, dép...
“Tham gia tổ hợp tác, tôi được tập huấn kỹ thuật, quản lý, thiết kế mẫu mã và tham quan các mô hình sản xuất ở nhiều nơi. Nhờ đó, năng suất và chất lượng sản phẩm được nâng lên, mẫu mã cũng phù hợp thị trường hơn. Hiện nay, cơ sở nhận nhiều đơn hàng với số lượng từ 2.000 – 5.000 sản phẩm/lần, trong đó có ống hút, giỏ bàng và các loại ví, túi...” - bà Trang chia sẻ.
Tại ấp An Bình, xã Ba Chúc, bà Huỳnh Thị Thanh là thế hệ thứ tư trong gia đình gắn bó với nghề đan cỏ bàng. Theo bà Thanh, để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn, từ thu hoạch, phân loại, phơi, ép cỏ đến đan thành từng tấm nguyên liệu hoặc sản phẩm hoàn chỉnh. “Cỏ bàng sau khi thu hoạch được phân loại theo độ dài, bó lại rồi phơi khoảng 3 ngày. Sau đó, cỏ được ép dẹp trước khi đưa vào đan. Tùy từng sản phẩm mà người thợ tạo thành đệm, túi, giỏ treo cây cảnh hay giỏ đựng quần áo” - bà Thanh cho biết.
Với sự vào cuộc của chính quyền, sự đồng hành của các tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp cùng tâm huyết của các nghệ nhân, nghề thủ công truyền thống của đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước cơ hội mới. Giữ nghề không chỉ là giữ một phương thức mưu sinh, mà còn là giữ ký ức cộng đồng, giữ bản sắc văn hóa và trao lại cho thế hệ mai sau những giá trị đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ, góp phần quảng bá văn hóa, thúc đẩy du lịch và tạo động lực phát triển kinh tế cho cộng đồng.

