Bảo tồn hồn cốt hát Then trong thời đại số
Giữa nhịp sống hiện đại, hát Then - di sản của người Tày đang đối diện nhiều thách thức khi thế hệ trẻ có xu hướng rời bản làng lập nghiệp, khiến sợi dây kết nối di sản dần đối mặt với nguy cơ đứt gãy
Thái Nguyên không chỉ ghi dấu ấn trong lòng du khách với hình ảnh những đồi chè xanh mướt trải dài, mà đây còn là vùng đất lưu giữ đậm đà bản sắc văn hóa của người Tày, nơi tiếng đàn Tính và làn điệu Then vẫn bền bỉ chảy trôi trong đời sống văn hóa cộng đồng.
Trong nếp nhà sàn tại xã Phúc Lương (trước sáp nhập thuộc huyện Đại Từ), tiếng đàn Tính vẫn đều đặn vang lên mỗi sớm chiều, hòa quyện vào nhịp sinh hoạt thường nhật, tạo nên một không gian văn hóa vừa gần gũi vừa mang chiều sâu tâm linh tĩnh tại.
Gắn bó với nghệ thuật hát Then hơn 30 năm, chị Đào Thị Thoa (SN 1977) đã thẩm thấu làn điệu này từ những ngày còn thơ bé, bắt đầu từ âm hưởng dìu dắt, thiết tha trong lời hát của mẹ cha.
"Thuở tôi còn bé, vào những đêm đông ngồi bên bếp lửa bập bùng, tôi tỉ mẩn lắng nghe bố mẹ hát, rồi ngày qua ngày, nghe nhiều thành quen và dần thuộc lòng từng câu từng chữ, làn điệu đó cứ thế ngấm vào tâm hồn mình lúc nào không hay nữa", chị Thoa tâm sự.

Không gian sinh hoạt hát then của người Tày tại xã Phúc Lương (Đại Từ, Thái Nguyên)
Thế nhưng, khi lớn lên, trực tiếp cầm đàn và học cách giữ nhịp, chị Thoa mới thấu hiểu hết sự tinh tế của bộ môn nghệ thuật này. Theo chị, cái khó không nằm ở lời ca, mà ở kỹ thuật giữ hơi dài, cách luyến láy và sự chính xác tuyệt đối của nhịp điệu.
"Không phải cứ thuộc lời là có thể hát được đâu, muốn câu Then tròn trịa, người hát phải làm chủ được nhịp đàn, bởi tiếng đàn và giọng hát là hai thực thể hòa quyện, nếu lệch nhịp, hồn cốt của câu hát, bài ca sẽ rời rạc”, chị Thoa nói.
Cũng theo chị Thoa, để tạo nên sự hòa quyện đó, cây đàn Tính chính là hồn cốt, là sợi dây kết nối. Công đoạn chế tác đàn Tính cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ, đàn gồm ba bộ phận chính: bầu đàn, cần đàn và ba dây đàn tạo âm sắc đặc trưng.
Bầu đàn làm từ quả bầu khô già, phải tròn đều và vỏ không lồi lõm, kích thước từ 15 - 25cm, mặt đàn được xẻ từ gỗ ngô đồng, độ dày tiêu chuẩn chỉ khoảng 3mm.
Trên mặt gỗ, người thợ khoét hai lỗ thoát âm hình hoa thị, khác với kiểu cũ khoét ở phía sau bầu đàn, thiết kế mới này giúp âm thanh thoát ra cộng hưởng vang và rõ hơn.

Bài then được chép tay, lưu giữ lời ca và giai điệu truyền thống của người Tày
Cần đàn chế tác từ gỗ dâu hoặc gỗ thừng mục, yêu cầu phải thẳng và dài, một đầu xuyên qua bầu đàn, đầu còn lại uốn cong hình lưỡi liềm, đầu rồng hoặc hình đầu phượng.
Dây đàn xưa làm từ tơ xe, nay đã thay bằng dây nilon để tăng độ bền và âm vang. Mặt cần đàn được làm trơn nhẵn để nghệ nhân dễ dàng thao tác luyến láy khi biểu diễn.
Tiếng đàn không chỉ là nhạc cụ dẫn nhịp, mà còn phản ánh thế giới quan cùng tâm hồn người Tày, do đó, người học hát Then đòi hỏi sự thấu cảm từ tâm hồn ẩn sau tiếng đàn thì mới truyền tải trọn vẹn di sản.
Khác với Quan họ Bắc Ninh là loại hình văn hóa mang tính chất giao duyên, cởi mở liền anh, liền chị và thường được biểu diễn trong không gian hội hè để kết bạn, gửi gắm tình cảm trai gái thì hát Then lại mang tính tâm linh, là tiếng lòng giao đãi giữa con người với cõi đất trời.
Nếu Quan họ cần sự “vang, rền, nền, nảy” để vang vọng giữa sân đình, thì hát Then đòi hỏi sự thâm trầm. Chính sự khác biệt về tính chất này khiến hát Then gặp khó khăn hơn trong việc lan tỏa rộng rãi, trở thành một “đặc sản du lịch” dễ tiếp cận như Quan họ.

Sinh hoạt hát then của cộng đồng người Tày ở Phúc Lương được duy trì qua nhiều thế hệ
Hiện nay, việc truyền dạy Then vẫn chủ yếu diễn ra theo phương thức truyền khẩu, thực hành trực tiếp tại gia đình và cộng đồng.
Chính sự thiếu vắng hệ thống giáo trình hay ký âm chuyên biệt khiến việc tiếp cận loại hình này trở nên khó khăn, nhất là đối với thế hệ trẻ vốn đang bị cuốn vào nhịp sống công nghiệp hiện đại.
“Giới trẻ giờ đây thường có xu hướng lập nghiệp xa xứ, mải mê với vòng xoáy mưu sinh tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp tư nhân nơi phố thị, thậm chí là định cư ở đó. Do đó, ít có điều kiện gần gũi với loại hình này nên việc theo học hát Then cũng trở nên hạn chế vì thiếu thời gian và không gian rèn luyện.
Giờ những người biết đến hát Then đa số đã có tuổi, trong khi một số bộ phận thế hệ trẻ lại không còn mặn mà, nếu thế hệ như chúng tôi không còn nữa thì làn điệu này sẽ đứng trước nguy cơ mai một", chị Thoa trăn trở.
Trong những căn nhà sàn giản dị, chị Thoa vẫn kiên trì ôm đàn, cất giọng, tiếng hát Then vẫn đều đặn nối nhịp, len lỏi qua từng nếp nhà, giữ lửa cho cả một vùng văn hóa.
“Tôi còn hát được ngày nào thì còn giữ ngày đó. Sau này, nếu con cháu có tâm muốn học, vẫn còn người truyền dạy để làn điệu này không bị lãng quên”, chị Thoa nói thêm.
Giữa những ồn ã của đời sống đương đại, sự tồn tại của hát Then vẫn đang trông cậy vào những “người giữ lửa” lặng lẽ như chị Thoa. Họ không chỉ giữ một làn điệu, mà đang giữ cả một phần hồn cốt của núi rừng Thái Nguyên, chờ đợi những thế hệ kế cận tìm về nguồn cội để cùng tiếp nối sợi dây văn hóa thiêng liêng ấy.
Mới đây, HĐND tỉnh Thái Nguyên ban hành Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND, ưu tiên hỗ trợ các câu lạc bộ nghệ thuật dân gian gắn với loại hình đã được ghi danh hoặc thuộc danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Điều kiện là câu lạc bộ có tổ chức rõ ràng, sinh hoạt thường xuyên, tối thiểu 20 thành viên và có nghệ nhân trực tiếp truyền dạy.
Theo đó, mỗi xã được hỗ trợ tối đa 300 triệu đồng, mỗi phường 200 triệu đồng để đầu tư trang thiết bị; đồng thời hỗ trợ 30 triệu đồng/năm cho mỗi câu lạc bộ duy trì hoạt động. Chính sách triển khai giai đoạn 2026-2030, nhằm giữ chân lực lượng tham gia và duy trì không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/bao-ton-hon-cot-hat-then-trong-thoi-dai-so-223598.html









![[Video] Chi tiết 13 điểm bắn pháo hoa tối 30-4 tại Đồng Nai](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_04_29_423_55049389/3102876a5822b17ce833.jpg)

