'Bầu sữa' tín dụng quá tải: 38,5 triệu tỷ đồng và giới hạn của ngân hàng
Nền kinh tế đang đứng trước cơn khát vốn khổng lồ, nhưng 'bầu sữa' ngân hàng đã dần quá tải khi phải gánh tới 145% GDP tín dụng. Khi dòng vốn dài hạn chưa được khơi thông, áp lực đang dồn lên một hệ thống vốn không được thiết kế để 'nuôi' tăng trưởng dài hạn.
Ngày 21/4, tham gia thảo luận tại hội trường về kinh tế, xã hội, một số đại biểu Quốc hội cho rằng để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, nền kinh tế cần huy động nguồn lực khổng lồ nhưng ngân sách chỉ đáp ứng được 20%. Trong bối cảnh dư nợ tín dụng đã vượt 145% GDP và hệ thống ngân hàng đang đối mặt với rủi ro kỳ hạn, việc khơi thông thị trường trái phiếu và cổ phiếu không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu “sống còn” để giải cơn khát vốn trung và dài hạn.
Áp lực lên “bầu sữa” tín dụng
Mục tiêu tăng trưởng GDP bứt phá trong giai đoạn 5 năm tới đang đặt ra một bài toán tài chính cân não. Theo tính toán từ Bộ Tài chính, tổng nhu cầu vốn cho giai đoạn 2026-2030 ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Đáng chú ý, ngân sách nhà nước chỉ có thể gánh vác khoảng 20% con số này. Điều đó đồng nghĩa với việc 80% nguồn lực, tương đương hơn 30 triệu tỷ đồng phải huy động từ khu vực ngoài nhà nước.
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy một nghịch lý đáng lo ngại. Cuối năm 2025, tín dụng tăng 19,01% nhưng huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,11%. Bước sang quý I/2026, khoảng cách này càng nới rộng khi tín dụng tăng 2,15% nhưng huy động chỉ đạt 0,44%.

Quy mô tín dụng ngân hàng đạt khoảng 145% GDP, cao hơn nhiều so với một số nước trong khu vực.
Sự mất cân đối này không chỉ tiềm ẩn rủi ro thanh khoản mà còn cho thấy một thực tế ngân hàng đang phải lấy nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn – một điều tối kỵ trong quản trị rủi ro tài chính. Hiện nay, khoảng 40% dư nợ hệ thống là các khoản vay trung và dài hạn, tương đương 60% GDP. Việc "bắt" ngân hàng gánh vác vai trò của thị trường vốn đang đẩy hệ thống này vào thế khó.
Tại nghị trường Quốc hội ngày 21/4, đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai) cho rằng hiện quy mô tín dụng ngân hàng đạt khoảng 145% GDP, cao hơn nhiều so với một số nước trong khu vực. Điều này tạo áp lực lớn cũng như rủi ro tiềm tàng về nợ xấu hay hệ số an toàn vốn (CAR).
Trong khi đó, theo nguyên tắc, dòng tiền từ các ngân hàng chỉ cung cấp vốn ngắn hạn cho nền kinh tế, còn dài hạn cần phụ thuộc vào thị trường vốn. Ông Nam cho rằng, cần phát triển đồng bộ kênh dẫn vốn thứ hai là thị trường vốn, gồm trái phiếu và cổ phiếu.
Đại biểu đã thẳng thắn chỉ ra rằng, nếu dòng vốn không được khơi thông tương xứng, mục tiêu tăng trưởng cao sẽ mãi là bài toán khó giải. Ông cho rằng việc áp dụng mức trần tín dụng cơ học 15% cho toàn hệ thống có thể trở thành rào cản cho sự bứt phá.
“Nếu tăng trưởng tín dụng chỉ dừng lại ở mức 15% thì rất khó tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên”, ông An phân tích. Vị đại biểu này kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cần điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt hơn, nới hạn mức tín dụng có chọn lọc cho các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt, nợ xấu thấp để dẫn vốn trực tiếp vào khu vực sản xuất kinh doanh, thay vì áp dụng một con số chung cứng nhắc.
Tuy nhiên, nới tín dụng chỉ là giải pháp tình thế. Về lâu dài, nền kinh tế không thể mãi “nghiện” vay ngân hàng.
Bắt buộc phát triển thị trường vốn
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, hiệu quả sử dụng vốn (chỉ số ICOR) cần được cải thiện mạnh mẽ. Đại biểu Nguyễn Hải Nam (TP. Huế) phân tích, nếu hạ được ICOR xuống mức 4,5, nền kinh tế vẫn cần lượng vốn đầu tư tương đương 40% GDP, tức khoảng hơn 200 tỷ USD mỗi năm.
Hiện tại, quy mô tín dụng ngân hàng đã lên tới 145% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) mới chỉ chiếm khiêm tốn khoảng 10% GDP. Ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng của ADB tại Việt Nam, nhận định đây là sự chênh lệch bất hợp lý. Tại các nền kinh tế phát triển, thị trường trái phiếu mới là kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực, giúp giảm áp lực và rủi ro hệ thống cho các ngân hàng thương mại.
Ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup, tin rằng nếu có sự cải cách mạnh mẽ, Việt Nam hoàn toàn có thể huy động được nguồn vốn khổng lồ này. Đặc biệt khi Việt Nam được nâng hạng thị trường chứng khoán, dòng vốn từ các quỹ ngoại thông qua IPO và M&A sẽ đổ vào mạnh mẽ. Đây chính là “vốn thật” và mang tính dài hạn mà nền kinh tế đang khát khao.
Để chuyển dịch từ nền kinh tế phụ thuộc tín dụng sang nền kinh tế đa dạng hóa nguồn vốn, các chuyên gia và đại biểu Quốc hội đã đề xuất 5 nhóm giải pháp mang tính chiến lược gồm hoàn thiện hành lang pháp lý để phát triển thị trường vốn; Minh bạch hóa và Xếp hạng tín nhiệm, từ đó thúc đẩy thị trường TPDN phát triển theo chiều sâu; Phát triển nhà đầu tư tổ chức; Thúc đẩy tài chính xanh; Vận hành hiệu quả thị trường thứ cấp.
Giải trình trước Quốc hội, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết thị trường vốn, chứng khoán đang được phát triển trở thành kênh huy động trung và dài hạn của nền kinh tế.
Ông cho hay, Chính phủ đặt mục tiêu vốn hóa của thị trường chứng khoán đạt 120% GDP vào năm 2028 - mức tương đồng với các nước trong khu vực và thế giới. "Qua đó, thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn trung, dài hạn quan trọng, chia sẻ gánh nặng với các ngân hàng", Phó thủ tướng nói.
Tính đến cuối năm 2025, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt gần 10 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 77,9% GDP của Việt Nam.
Phát biểu trước đó, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cũng nói rằng thị trường chứng khoán có cơ hội thu hút vốn trong thời gian tới sau khi được FTSE Russell xác nhận nâng hạng từ thị trường cận biên lên mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9.
Với thị trường trái phiếu Chính phủ, sau thời gian trầm lắng, đã có dấu hiệu khởi sắc trở lại. Ông Tuấn cho hay năm nay, huy động vốn qua kênh này phấn đấu đạt 900.000 tỷ đồng, tăng 100.000 tỷ so với 2025.
Theo các chuyên gia, mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số là một khát vọng lớn, nhưng nó sẽ không thể chạm tới nếu chúng ta vẫn giữ tư duy cũ là “trông chờ vào ngân hàng”. Khi dư địa chính sách tiền tệ thu hẹp, việc phát triển thị trường vốn không chỉ là bài toán của riêng ngành tài chính, mà là mệnh lệnh để bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.
Như đại biểu Nguyễn Hải Nam đã nhấn mạnh: “Thị trường trái phiếu là mảnh ghép rất quý trong bức tranh tổng thể, cần được tạo điều kiện để bứt phá”. Chỉ khi nào dòng vốn trung và dài hạn được khơi thông, cỗ xe kinh tế Việt Nam mới có đủ nhiên liệu để chạy đua tới mục tiêu 2030.
Thanh Hoa











