Bền lề Quốc hội: Gỡ điểm nghẽn để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
Liên quan đến Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển văn hóa Việt Nam, bên lề Quốc hội, một số đại biểu Quốc hội nhất trí cao với dự thảo, đồng thời đánh giá nhiều nội dung có cách tiếp cận mới, mang tính đột phá, góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn trong phát triển văn hóa hiện nay.

Đại biểu Đặng Bích Ngọc, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách phụ trách Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ. Ảnh: LV
Đại biểu Đặng Bích Ngọc, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ:
Sử dụng hiệu quả nguồn lực từ nghệ nhân, người làm công tác văn hóa
Trong kỳ họp lần này, Quốc hội xem xét và dự kiến thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là một trong những nội dung quan trọng, kịp thời thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tập trung phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, truyền thống của người Việt Nam. Từ đó, để thế hệ trẻ có cách nhìn và tiếp tục phát huy, bảo tồn giá trị văn hóa.
Nếu Nghị quyết này được thông qua sẽ rất ý nghĩa, góp phần tích cực thực hiện cơ chế, chính sách, phát huy giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam.
Trong dự thảo Nghị quyết có rất nhiều nội dung, quy định tập trung vào việc thực hiện cơ chế, chính sách mang tính đột phát như về con người, tài chính, đối tượng để tập trung bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa.
Điều mà tôi quan tâm hiện nay là việc phát huy nét đẹp truyền thống của dân tộc, trong đó bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam được triển khai ở địa phương ra sao. Bảo tồn không làm mai một bản sắc của các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số. Ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, nền văn hóa luôn ở độ mở cao, cần có cơ chế, giải pháp bảo tồn phát huy. Đây là điều kiện quan trọng để chúng ta phân định được bản sắc dân tộc Việt Nam với các nước khác.
Hiện nay, dự thảo Nghị quyết quy định rõ cơ chế chính sách liên quan đến hỗ trợ chế độ, tài chính, nhà ở... Cùng với đó là điều kiện để các nghệ nhân, nghệ sĩ, những người làm công tác văn hóa phát huy được khả năng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị làm sao để tập trung đầu tư, hỗ trợ cho các nghệ nhân, những người đã và đang thổi hồn vào các văn hóa dân tộc.
Thực tế có nhiều mô hình hay, như các nghệ nhân thành lập các lớp học, truyền dạy những nét đẹp truyền thống văn hóa cho lớp trẻ. Trong Nghị quyết có nói đến cơ chế chính sách, nguồn lực phù hợp nhưng cần cụ thể hơn để có những phần kinh phí hỗ trợ cho nghệ nhân, tạo điều kiện các lớp học này.
Tiếp đó, những nghệ nhân có thể tham gia vào các chương trình dạy nghệ thuật ở nhà trường. Có thể là những giờ học vào buổi chiều. Đây là mô hình rất hay và Nghị quyết cần quy định cụ thể để sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Đại biểu Bùi Văn Mạnh, Đoàn ĐBQH Ninh Bình. Ảnh: LV
Đại biểu Bùi Văn Mạnh, Đoàn ĐBQH Ninh Bình:
Làm rõ nội dung trong đầu tư lĩnh vực văn hóa đặc thù
Dự thảo đã tập trung vào các nhóm chính sách quan trọng như thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp văn hóa, bảo tồn di sản, phát triển nguồn nhân lực du lịch và đổi mới cơ chế tài chính. Đây đều là những lĩnh vực then chốt, nếu được triển khai hiệu quả sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển văn hóa trong giai đoạn tới. Nhưng để các chính sách thực sự đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến rõ nét, cần tiếp tục làm rõ một số nội dung.
Trước hết, mức đầu tư cho văn hóa hiện còn thấp và dàn trải. Dự thảo quy định tỷ lệ tối thiểu 2%, song cần xác định rõ mức đầu tư thực tế hiện nay để có cơ sở đánh giá và bảo đảm tính khả thi. Thực tế, một số địa phương như Ninh Bình, Quảng Ninh đã bố trí khoảng 3% ngân sách cho lĩnh vực văn hóa. Bên cạnh đó, cơ chế thu hút đầu tư tư nhân còn hạn chế.
Đầu tư vào lĩnh vực văn hóa có đặc thù thời gian thu hồi vốn dài, lợi nhuận thấp nên chưa đủ hấp dẫn doanh nghiệp. Đặc biệt, quy định về hợp tác công – tư (PPP) trong lĩnh vực văn hóa hiện vẫn chưa rõ ràng, thiếu cơ chế cụ thể để triển khai. Công nghiệp văn hóa của Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, thiếu hệ sinh thái và các chính sách đủ mạnh để thúc đẩy hình thành các cụm sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo về văn hóa. Tôi có một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách sau:
Thứ nhất, cần bổ sung và làm rõ cơ chế thí điểm mô hình “đầu tư công – quản trị tư”. Theo đó, Nhà nước tập trung đầu tư hạ tầng, còn doanh nghiệp tham gia quản trị, khai thác và chia sẻ doanh thu theo nguyên tắc hợp lý. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu như giao thông, bến bãi, khu đón tiếp, tạo mặt bằng sạch để nhà đầu tư thuê khai thác có thời hạn, tổ chức các hoạt động công nghiệp văn hóa và phát triển dịch vụ.
Thực tiễn cho thấy, hạ tầng di sản mang tính công cộng, khó thu hồi vốn nếu giao hoàn toàn cho doanh nghiệp. Trong khi đó, khu vực tư nhân lại có lợi thế về năng lực vận hành và quản trị chuyên nghiệp. Việc kết hợp giữa hai khu vực sẽ nâng cao hiệu quả khai thác tài sản công, đồng thời giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
Thứ hai, đối với mô hình đô thị di sản, tôi đánh giá đây là chính sách đột phá đối với nhiều địa phương có tiềm năng như Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần phân cấp mạnh hơn cho địa phương, trao quyền chủ động trong việc quyết định các cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế, phí, lệ phí đối với các hoạt động khai thác, phát huy giá trị di sản và công nghiệp văn hóa.
Cần cho phép địa phương được giữ lại nguồn thu từ hoạt động di sản, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phát sinh trên địa bàn để tái đầu tư cho hạ tầng đô thị di sản, phục vụ công tác bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị di sản.
Thứ ba, tại khoản 5 Điều 4 về cơ chế thu hút đầu tư và hợp tác công – tư trong lĩnh vực văn hóa, đại biểu đề nghị mở rộng phạm vi áp dụng đối với các dự án bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch. Đồng thời, cần giao Chính phủ quy định chi tiết các mô hình “đầu tư công - quản trị tư”, phương thức hợp tác, tỷ lệ phân chia lợi nhuận cũng như cơ chế giao doanh nghiệp quản trị, khai thác các thiết chế văn hóa do Nhà nước đầu tư.











