Bí ẩn lăng hoàng hậu giữa đồng bằng Huế và lời truyền 'công hầu bất tuyệt'
Khác với những lăng tẩm nhà Nguyễn thường tọa lạc giữa núi đồi phía tây Huế, lăng Vạn Vạn - nơi an nghỉ của mẹ vua Khải Định - lại nằm giữa đồng bằng, trên vùng đất Cù Bạc (nay là phường An Cựu) được truyền tụng là cát địa “công hầu bất tuyệt”.

Không nằm giữa những triền đồi phía tây Huế như phần lớn lăng tẩm thường thấy của các vua, chúa, hoàng hậu, phi tần nhà Nguyễn, lăng Vạn Vạn ẩn mình giữa khu dân cư ở phường An Cựu. Di tích cách Đại Nội Huế hơn 5 km về phía đông nam. Địa điểm này từng thuộc xứ Cù Bạc, làng An Cựu Tây, tổng An Cựu (nay là phường An Cựu, Huế).

Lăng Vạn Vạn, còn gọi Tiên Cung lăng hay Tư Thông lăng, là nơi an nghỉ của Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu Dương Thị Thục (1868-1944), vợ vua Đồng Khánh, mẹ vua Khải Định. Theo lời kể của con cháu, bà qua đời tháng 9/1944; sau khoảng một tháng quàn tại cung Trường Sinh (Hoàng thành Huế), quan tài được đưa về lăng an táng.

Tên gọi Vạn Vạn bắt nguồn từ quan niệm phong thủy triều Nguyễn. Đất xây lăng vua phải là Vạn niên cát địa, còn lăng dành cho cha mẹ vua là Vạn vạn niên cát địa (vùng đất của sự cát lành lâu dài). Tên lăng sau đó còn được đặt cho khu dân cư ven sông An Cựu dẫn vào đây.

Theo truyền ngôn của các bô lão, vùng đất Cù Bạc được xem là nơi hội tụ nhiều yếu tố cát lành. Người xưa lưu truyền câu: Cù Bạc nhất xứ huyệt - Công hầu đợi đợi (đại) bất tuyệt. Có thể hiểu nghĩa, Cù Bạc là vùng đất lành, nếu chọn làm huyệt mộ thì con cháu đời đời được kỳ vọng vinh hiển, công hầu khanh tướng nối tiếp không dứt.

Lăng Vạn Vạn có khu đất quan phòng xấp xỉ 6 ha, quy mô bề thế. Dù nằm giữa đồng bằng, công trình vẫn được lựa chọn và quy hoạch theo những nguyên tắc phong thủy xưa nghiêm ngặt, tạo nên một không gian biệt lập giữa khu dân cư.

Lăng Vạn Vạn nằm theo trục Tây Bắc - Đông Nam, tựa núi Ngự Bình, hướng ra dòng nước từ Cống Bạc về sông An Cựu. Không gian tuân thủ thế Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ.

Điểm đặc biệt của lăng Vạn Vạn là dù tọa lạc trên vùng đồng bằng, Huyền Cung - khu vực trung tâm và cũng là mật địa của lăng - lại được xây trên một gò đất cao khoảng 4 m. Bao quanh Huyền Cung là Bửu Thành với hai vòng thành kiên cố, vòng ngoài cao khoảng 4,5 m, vòng trong cao khoảng 3 m.

Bửu Thành Môn - lối duy nhất dẫn vào Huyền Cung.

Qua Bửu Thành Môn, ở trung tâm Huyền Cung là ngôi mộ đá được thiết kế như một ngôi nhà nhỏ đặt trên bậc cấp. Bốn góc có lan can, bổ trụ chắp hình hoa sen và các cặp quả đào tiên, mãng cầu, xoài, lựu. Những mô típ này tạo nên hệ thống trang trí vừa giàu tính biểu tượng vừa mang màu sắc truyền thống Việt.




Được xây dựng dưới thời vua Khải Định, lăng Vạn Vạn ghi dấu giai đoạn kiến trúc nhà Nguyễn bắt đầu kết hợp xi măng, cốt thép với vật liệu vôi vữa truyền thống. Các họa tiết mặt trời, mây, hoa sen, phượng, đào tiên… được trang trí công phu, tinh xảo.

Sau khi triều Nguyễn cáo chung năm 1945, việc quản lý, bảo vệ lăng Vạn Vạn có thời gian dài bị bỏ ngỏ, khu binh xá hộ lăng cũng dần xuống cấp. Từ cuối năm 2002, công tác bảo vệ được khôi phục. Lăng đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 2006.

