Phát triển Công nghiệp Văn hóa: Khơi thông nguồn lực nội sinh, tạo động lực tăng trưởng mới- Kỳ II

Một chủ trương lớn của Đảng khi ra đời luôn bắt rễ từ thực tiễn sinh động. Đầu năm 2026, khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị mở ra tầm nhìn thời đại về phát triển văn hóa Việt Nam, Ninh Bình đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU nhằm cụ thể hóa mục tiêu trọng tâm của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 -2030 định hình phát triển du lịch cùng với công nghiệp văn hóa trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn. Đó không phải là một quyết định duy ý chí, mà được đúc kết trên nền tảng tư duy phát triển hiện đại (xanh, bền vững, bao trùm) được Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh kiên trì vun đắp qua nhiều nhiệm kỳ. Từ các sự kiện nghệ thuật, làng nghề sáng tạo cho đến không gian liên kết mới, dòng chảy kinh tế bản sắc đã sẵn sàng nhập cuộc, đưa di sản thực sự hóa thành nguồn lực phụng sự tương lai.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I (nhiệm kỳ 2025–2030) xác định mục tiêu đưa du lịch cùng công nghiệp văn hóa trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn, tạo đột phá phát triển nhanh và bền vững.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I (nhiệm kỳ 2025–2030) xác định mục tiêu đưa du lịch cùng công nghiệp văn hóa trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn, tạo đột phá phát triển nhanh và bền vững.

Nhìn lại hành trình hơn hai thập kỷ qua, sự chuyển dịch mô hình phát triển từ "nâu" sang "xanh" của Ninh Bình là một quá trình tích lũy thực tiễn bền bỉ. Nguồn lực địa phương không chỉ dành cho việc trùng tu các công trình cụ thể, mà hướng thẳng vào con người - chủ thể cốt lõi của di sản. Hàng trăm câu lạc bộ hát Chèo, hát Xẩm, hát Văn ở cơ sở được hỗ trợ kinh phí hoạt động; các lớp truyền dạy nghệ thuật dân gian cho thanh thiếu niên được duy trì đều đặn; chế độ đãi ngộ cho các nghệ nhân dân gian, nghệ nhân ưu tú được thực hiện kịp thời, giúp những "báu vật nhân văn sống" yên tâm trao truyền ngọn lửa cội nguồn.

Các lớp truyền dạy nghệ thuật hát Xẩm, hát Chèo được duy trì đều đặn tại cơ sở, trao truyền ngọn lửa đam mê và bồi đắp mạch nguồn văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ.

Các lớp truyền dạy nghệ thuật hát Xẩm, hát Chèo được duy trì đều đặn tại cơ sở, trao truyền ngọn lửa đam mê và bồi đắp mạch nguồn văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ.

Về Yên Mô - cái nôi của nghệ thuật hát Xẩm, kể từ ngày nghệ nhân Ưu tú Hà Thị Cầu về với tổ tiên năm 2013, con cháu và học trò nơi đây chưa một ngày ngơi nghỉ hành trình gìn giữ từng làn điệu cổ truyền. Bà Nguyễn Thị Mận, Chủ nhiệm Câu lạc bộ hát Xẩm Hà Thị Cầu chia sẻ, hơn chục năm qua, câu lạc bộ duy trì sinh hoạt đều đặn, thu hút từ các em nhỏ lên 5 đến các cụ già ngoài 70. Không chỉ sinh hoạt nội bộ, các thành viên câu lạc bộ còn tích cực giao lưu, biểu diễn ở nhiều hội diễn, liên hoan để lan tỏa nét độc đáo của Xẩm đến công chúng.

Nghệ thuật hát Xẩm vượt ra khỏi không gian truyền thống, trở thành sản phẩm du lịch trải nghiệm giàu bản sắc thu hút du khách.

Nghệ thuật hát Xẩm vượt ra khỏi không gian truyền thống, trở thành sản phẩm du lịch trải nghiệm giàu bản sắc thu hút du khách.

Lý giải về bản chất của mô hình này, PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình từng phân tích: Trong khi nhiều nơi bị cuốn theo mô thức công nghiệp hóa cổ điển gây hại môi trường, Ninh Bình chọn lối đi bảo vệ môi trường, "hồi sinh" di sản để tạo dư địa cho kinh tế xanh. Bản chất của công nghiệp văn hóa là biến các giá trị ký ức, biểu tượng thành sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao.

Chính bệ đỡ tư duy ấy đã giúp Ninh Bình mạnh dạn thực hiện những phép thử mới. Đại nhạc hội Tràng An Forestival với hàng vạn khán giả giữa thung lũng di sản là một minh chứng. Trong dòng chảy âm nhạc điện tử cuồng nhiệt, sự kết hợp ngẫu hứng giữa nhịp phách, tiếng trống của Câu lạc bộ hát Xẩm Hà Thị Cầu với kỹ thuật beatbox đã mang lại sự thích thú bất ngờ cho công chúng trẻ. Phép thử ban đầu này cho thấy nghệ thuật truyền thống hoàn toàn có thể tìm thấy tiếng nói chung với đương đại nếu người làm văn hóa dám thử nghiệm.

Đại nhạc hội Tràng An Forestival.

Đại nhạc hội Tràng An Forestival.

Dấu ấn sáng tạo còn lan tỏa sang việc chọn hình tượng Voọc mông trắng - loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm của Ninh Bình làm linh vật nhận diện xuyên suốt. Từ hình mẫu này, các bạn trẻ đã thiết kế chuỗi sản phẩm lưu niệm như thú bông, áo phông, cốc sứ, túi vải hay bộ sticker bảo vệ di sản được du khách đón nhận nhiệt tình. Giám đốc Sở Du lịch Bùi Văn Mạnh nhìn nhận: Du lịch chính là thị trường tiêu thụ trực tiếp và là kênh phân phối hiệu quả nhất cho các sản phẩm sáng tạo, biến tiềm năng văn hóa thành nguồn thu kinh tế thực chất.

Biểu tượng linh vật Voọc mông trắng quý hiếm được chuyển hóa thành chuỗi sản phẩm lưu niệm sáng tạo, biến nguồn lực tự nhiên và di sản thành giá trị kinh tế thương mại.

Biểu tượng linh vật Voọc mông trắng quý hiếm được chuyển hóa thành chuỗi sản phẩm lưu niệm sáng tạo, biến nguồn lực tự nhiên và di sản thành giá trị kinh tế thương mại.

Bức tranh nghệ thuật khổng lồ trên cánh đồng lúa Tam Cốc - kết tinh từ đôi bàn tay, giọt mồ hôi của người nông dân và tư duy kiến tạo công nghiệp văn hóa.

Bức tranh nghệ thuật khổng lồ trên cánh đồng lúa Tam Cốc - kết tinh từ đôi bàn tay, giọt mồ hôi của người nông dân và tư duy kiến tạo công nghiệp văn hóa.

Nằm trong vùng lõi của Di sản thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, phường Nam Hoa Lư hội tụ nhiều điểm đến nổi tiếng như Tam Cốc - Bích Động, vườn chim Thung Nham, Thung Nắng, cùng những làng nghề truyền thống giàu bản sắc như thêu ren Văn Lâm, đá mỹ nghệ Ninh Vân,... Sự đan quyện giữa cảnh quan thiên nhiên, chiều sâu lịch sử và đời sống cộng đồng đã tạo nên một không gian phát triển du lịch đặc sắc, nơi mỗi dòng sông, nếp làng đều có thể trở thành một phần của chuỗi giá trị kinh tế di sản.

Không gian di sản thế giới Tràng An - Tam Cốc mở ra chuỗi trải nghiệm đa dạng từ chèo thuyền, tham quan làng nghề truyền thống.

Không gian di sản thế giới Tràng An - Tam Cốc mở ra chuỗi trải nghiệm đa dạng từ chèo thuyền, tham quan làng nghề truyền thống.

Năm 2025, toàn phường ước đón 1,5 triệu lượt khách, doanh thu từ hoạt động du lịch đạt khoảng 1.500 tỷ đồng. Những con số ấy phản ánh tiềm năng chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sinh kế thực chất. Tuy nhiên, nằm trong vùng lõi di sản thế giới cũng đồng nghĩa với việc cấp ủy, chính quyền địa phương phải đối diện với áp lực bảo tồn nghiêm ngặt: Phát triển thế nào để không làm tổn hại đến giá trị nổi bật toàn cầu của di sản?

Trao đổi về vấn đề này, đồng chí Lưu Xuân Tình, Phó Chủ tịch UBND phường Nam Hoa Lư cho biết: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ phường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Địa phương đã cụ thể hóa bằng các nghị quyết chuyên đề về phát triển du lịch xanh, bền vững, gắn khai thác kinh tế di sản với giữ gìn cảnh quan môi trường và bản sắc văn hóa.

Dòng chảy kinh tế bản sắc tiếp tục ghi dấu ấn trong sự hồi sinh của các làng nghề truyền thống. Điểm sáng là Hợp tác xã Sinh Dược (phường Tây Hoa Lư). Gắn liền với truyền thuyết Thiền sư Nguyễn Minh Không hái thuốc chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, những người trẻ nơi đây không bán cây thuốc thô giá rẻ, mà xây dựng chuỗi sản phẩm chăm sóc sức khỏe mang đậm hàm lượng văn hóa: muối ngâm chân thảo dược, xà bông thảo mộc, tinh dầu tự nhiên, tranh lá bồ đề... Mỗi sản phẩm khi đến tay khách hàng đều được bao gói bằng giấy mộc, mang theo câu chuyện về vùng đất thiêng dưới chân núi Bái Đính. Sinh Dược trở thành mô hình kiểu mẫu về kinh tế làng nghề tuần hoàn gắn với công nghiệp văn hóa, tạo việc làm ổn định cho hàng trăm lao động nông thôn.

Mô hình khai thác cây thuốc bản địa, gắn với truyền thuyết Thiền sư Nguyễn Minh Không để tạo ra các dòng sản phẩm chăm sóc sức khỏe hàm lượng giá trị gia tăng cao tại HTX Sinh Dược.

Mô hình khai thác cây thuốc bản địa, gắn với truyền thuyết Thiền sư Nguyễn Minh Không để tạo ra các dòng sản phẩm chăm sóc sức khỏe hàm lượng giá trị gia tăng cao tại HTX Sinh Dược.

Cùng với Sinh Dược, câu chuyện “hồi sinh” dòng gốm cổ Bồ Bát (xã Đồng Thái) khẳng định một thực tiễn: Khát vọng khôi phục di sản của người thợ tài hoa sẽ khó vượt qua những rào cản ban đầu nếu thiếu đi bệ đỡ chính sách và sự trợ lực kịp thời của cấp ủy, chính quyền cơ sở.

Từng là cội nguồn khai sinh ra gốm Bát Tràng từ dấu mốc Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La (sau này là Thăng Long –Hà Nội) năm 1010, nghề gốm cổ Bồ Bát sau đó đã trải qua nhiều thế kỷ thăng trầm, tưởng chừng thất truyền hoàn toàn. Bằng niềm đau đáu với di sản cha ông, các nghệ nhân như Phạm Văn Vang, Hoàng Thị Huyền Trang đã kiên trì tìm lại bài men cổ, phục dựng xương đất và tạo hình những sản phẩm gốm mang đậm hoa văn thời Đinh - Tiền Lê...

Nghệ nhân gốm Bồ Bát kiên trì tìm lại bài men cổ, phục dựng dòng gốm cổ thành sản phẩm OCOP đặc sắc phục vụ du khách trải nghiệm.

Nghệ nhân gốm Bồ Bát kiên trì tìm lại bài men cổ, phục dựng dòng gốm cổ thành sản phẩm OCOP đặc sắc phục vụ du khách trải nghiệm.

Nhận diện đây là hạt nhân quý báu của kinh tế di sản, cấp ủy và chính quyền các cấp đã vào cuộc đồng hành: hỗ trợ mặt bằng sản xuất, tháo gỡ khó khăn về nhà xưởng, trích nguồn vốn khuyến công tiếp sức công nghệ lò nung hiện đại, đồng thời kết nối sản phẩm vào các hội chợ xúc tiến thương mại và chuỗi tour du lịch trải nghiệm. Từ sự trợ lực ấy, gốm Bồ Bát nay không chỉ đạt chuẩn OCOP cấp tỉnh, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho những người thợ trẻ địa phương, mà xưởng gốm còn trở thành điểm dừng chân hấp dẫn để du khách tìm về để được trải nghiệm những nét tinh hoa của người làm nghề khi tự tay nặn gốm, cảm nhận chiều sâu lịch sử qua từng thớ đất quê hương.

Không dừng lại ở việc hỗ trợ đơn lẻ, vai trò “bà đỡ” của Nhà nước thể hiện rõ nét khi ngành Du lịch chủ động bắc nhịp cầu, đưa các nhà thiết kế, chuyên gia mỹ thuật đương đại về khảo sát và mở ra Không gian làng nghề truyền thống (gốm, dệt, thêu, đan cói....) ngay tại khu du lịch Tam Cốc. Dù bước đầu đối mặt với thách thức khi các thiết kế cao cấp có giá thành chênh lệch nhất định với khả năng chi trả của số đông du khách, nhưng mô hình đã tạo động lực thúc đẩy các làng nghề thay đổi tư duy sản xuất.

Cùng với phát triển kinh tế làng nghề, việc mở rộng địa giới hành chính đã mở ra hướng đi mới: Hướng trọng tâm phát triển ra phía biển. Tuy bãi cát và nước tắm không phải thế mạnh vượt trội, nhưng vùng biển Ninh Bình mới với không gian văn hóa truyền thống, làng nghề và hệ sinh thái đất ngập nước ven biển đã tạo nên những thế mạnh riêng có.

Tuyến du lịch kết nối di sản Cố đô Hoa Lư với không gian biển Thịnh Long- Giao Ninh mở ra bước ngoặt vươn mình ra biển.

Tuyến du lịch kết nối di sản Cố đô Hoa Lư với không gian biển Thịnh Long- Giao Ninh mở ra bước ngoặt vươn mình ra biển.

Bằng việc ra mắt tuyến du lịch kết nối Thịnh Long - Hành Thiện - Quần Anh - Giao Ninh, Ninh Bình đã kết nối mạch nguồn di sản Cố đô Hoa Lư với không gian văn hóa biển và hệ thống nhà thờ cổ kính. Ngành Du lịch đã hỗ trợ các địa phương ven biển từ những việc cụ thể: chỉnh trang cảnh quan, chiếu sáng đường phố, tập huấn văn hóa đón tiếp cho bà con, hỗ trợ ra mắt bộ nhận diện thương hiệu du lịch Giao Ninh và khai trương mùa du lịch biển Thịnh Long. Kết quả bước đầu mang lại đã vượt ngoài mong đợi: Lượng khách đổ về các vùng biển tăng vọt, các cơ sở homestay, nhà nghỉ dọc bờ biển luôn kín phòng vào dịp cuối tuần, sản phẩm OCOP địa phương tiêu thụ mạnh mẽ...

Sự sôi động của các làng nghề hay tour tuyến ven biển suy cho cùng đều bắt nguồn từ một “bệ đỡ” vững chắc: chiều sâu văn hóa ngàn đời của vùng đất – con người Ninh Bình. Muốn kinh tế di sản đi đường dài, điều cốt lõi trước hết là phải gìn giữ vẹn nguyên những giá trị nguyên bản ấy.

Nhận thức rõ điều này, mới đây nhất, các bước đưa phát hiện khảo cổ học tầm cỡ quốc tế tại vùng lõi Tràng An vào khai thác du lịch đã được thực hiện hết sức bài bản và nghiêm cẩn. Tại hang Thung Bình, Dự án khảo cổ SUNDASIA hợp tác với các nhà khoa học từ Đại học Cambridge và Queen’s Belfast (Anh) đã tìm thấy di cốt người tiền sử có niên đại gần 13.000 năm – mang mẫu ADN cổ xưa nhất từng được ghi nhận tại Việt Nam. Kỳ diệu thay, dấu tích sinh tồn tiền sử ấy lại nằm trọn trong thung lũng Thung Ui, nơi hơn một nghìn năm trước vua Đinh Tiên Hoàng từng lập Đàn Kính Thiên tế cáo trời đất, mở nền độc lập.

Các nhà khoa học thuộc Dự án khảo cổ SUNDASIA (Đại học Cambridge, Vương quốc Anh) khai quật và nghiên cứu di cốt người tiền sử có niên đại gần 13.000 năm tại hang Thung Bình trong vùng lõi Quần thể danh thắng Tràng An.

Các nhà khoa học thuộc Dự án khảo cổ SUNDASIA (Đại học Cambridge, Vương quốc Anh) khai quật và nghiên cứu di cốt người tiền sử có niên đại gần 13.000 năm tại hang Thung Bình trong vùng lõi Quần thể danh thắng Tràng An.

Trước thềm mở cửa hệ thống hang động đón khách, dưới sự định hướng, giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp đã chọn một cách làm kiên trì: làm đường dẫn hoàn toàn bằng sức người, kiên quyết không đưa máy móc cơ giới... vào vùng lõi để tránh làm tổn hại đến tầng văn hóa và cảnh quan di tích.

Thế nhưng, di sản tiền sử ngàn năm hay Đàn Kính Thiên linh thiêng sẽ chỉ là những trầm tích lặng lẽ nếu thiếu đi ngọn lửa sống động từ chính những con người đang gìn giữ vùng đất này hôm nay. Ngay dưới chân thung lũng Thung Ui, không gian văn hóa Mường bản địa như bừng sáng mỗi ngày nhờ tiếng cồng chiêng, điệu nhảy sạp rộn ràng và sự mến khách của đội văn nghệ quần chúng do đảng viên Bùi Thị Thúy phụ trách.

Tiếng cồng chiêng, điệu múa sạp rộn ràng của đồng bào Mường tại Thung Ui.

Tiếng cồng chiêng, điệu múa sạp rộn ràng của đồng bào Mường tại Thung Ui.

Hơn 20 năm tuổi Đảng, sinh hoạt tại Chi bộ tổ dân phố Đồng Bài, đảng viên người dân tộc Mường, bà Bùi Thị Thúy là hạt nhân nòng cốt quy tụ 30 bà con người Mường cùng tham gia Đội văn hóa - văn nghệ tại Khu du lịch Thung Ui. Không chỉ tổ chức cho đội trình diễn các điệu múa cổ, trò chơi dân gian như ném còn, đánh mảng và giới thiệu văn hóa ẩm thực Mường độc đáo đến du khách, người đảng viên ấy luôn gương mẫu đi đầu trong việc giữ gìn nếp sống văn minh du lịch.

Từ câu chuyện của đảng viên Bùi Thị Thúy có thể thấy sức sống của di sản không chỉ được gìn giữ bằng những công trình, thiết chế văn hóa, mà còn được nuôi dưỡng từ ý thức trách nhiệm, sự chủ động và sáng tạo của chính người dân. Điều đáng ghi nhận là những việc làm bình dị ấy không còn là nỗ lực riêng lẻ, mà đang lan tỏa thành những mô hình thiết thực ngay tại cơ sở, nơi mỗi người dân vừa là chủ thể bảo tồn, vừa là một “đại sứ văn hóa”, trực tiếp giới thiệu, quảng bá và tạo dựng giá trị mới từ di sản quê hương.

Người dân và các thợ thủ công trở thành “đại sứ du lịch”, trực tiếp hướng dẫn du khách trải nghiệm vẽ tranh di sản trên nón lá và làm đồ lưu niệm thủ công.

Người dân và các thợ thủ công trở thành “đại sứ du lịch”, trực tiếp hướng dẫn du khách trải nghiệm vẽ tranh di sản trên nón lá và làm đồ lưu niệm thủ công.

Tại phường Tây Hoa Lư, tinh thần ấy được thể hiện sinh động qua sự tham gia của gần 2.000 hội viên phụ nữ trong các hoạt động kinh doanh, dịch vụ du lịch. Không chỉ chèo đò, hướng dẫn khách, kinh doanh lưu trú, ẩm thực, nhiều chị em còn chủ động khai thác chất liệu văn hóa bản địa để sáng tạo những sản phẩm mang dấu ấn riêng. Từ ruốc cá rô tiến Vua Tổng Trường đến những chiếc nón lá, túi xách lưu niệm mang hình ảnh danh thắng quê hương, các giá trị truyền thống đang được tiếp nối bằng những cách làm mới, vừa gìn giữ bản sắc, vừa mở rộng sinh kế cho người dân.

Đáng chú ý, từ những hoạt động tự phát, riêng lẻ, Hội Liên hiệp Phụ nữ phường đã từng bước tập hợp, định hướng và phát triển thành các mô hình cộng đồng như “Phụ nữ với văn minh du lịch”, Câu lạc bộ “Phụ nữ làm dịch vụ du lịch”. Từ mỗi việc làm cụ thể, các hội viên đang góp phần xây dựng hình ảnh điểm đến văn minh, thân thiện, đồng thời khẳng định vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản.

Trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, tỉnh Ninh Bình xác định lấy di sản làm nền tảng, lấy sáng tạo làm động lực và lấy con người làm trung tâm của sự phát triển bền vững. Chính từ thực tiễn sinh động ấy, những sáng kiến, mô hình mới đã được khơi nguồn, hình thành và phát triển ngay từ cơ sở. Đây cũng là biểu hiện rõ nét của sự thống nhất trong nhận thức và hành động trên toàn tỉnh khi chủ trương phát triển văn hóa, du lịch không chỉ được được cụ thể hóa bằng tinh thần chủ động, sáng tạo và sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân. Đó chính là sức mạnh nội sinh để nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, để mỗi người dân thực sự được “sống trong di sản, bảo vệ di sản, hưởng lợi từ di sản”.

Tầm nhìn kiên định của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân đã tạo nên xung lực mạnh mẽ cho nền kinh tế. Báo cáo của Cục Thống kê tỉnh cho thấy, tốc độ tăng GRDP 9 tháng năm 2026 của Ninh Bình ước đạt 11,31%, xếp thứ 5 cả nước. Trong bức tranh bứt phá ấy, kinh tế di sản và du lịch khẳng định rõ nét vai trò trụ cột: khu vực dịch vụ đạt mức tăng trưởng 9,95%, đóng góp tới 3,33 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn tỉnh.

Bước nhảy vọt về các chỉ số tăng trưởng đã phản ánh sự chuyển dịch thực chất: kinh tế di sản không chỉ tăng trưởng về quy mô mà đang bứt phá mạnh mẽ về chiều sâu giá trị. Thương hiệu quốc tế và vị thế điểm đến toàn cầu tiếp tục được củng cố khi Quần thể danh thắng Tràng An được UNESCO ghi nhận là mô hình mẫu mực thế giới về bảo tồn gắn với du lịch bền vững; Khu bảo tồn Vân Long đạt Danh lục Xanh IUCN; và Vườn quốc gia Cúc Phương nhiều năm liền giữ vững danh hiệu hàng đầu châu Á; Vườn quốc gia Xuân Thủy được công nhận danh hiệu Vườn di sản ASEAN.

Những con số tăng trưởng ấn tượng và các mô hình sống động hôm nay chính là câu trả lời thuyết phục nhất từ cuộc sống: Lựa chọn con đường phát triển của Ninh Bình là hoàn toàn đúng đắn. Việc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng “nóng” bằng mọi giá, kiên định giữ gìn di sản đã tạo nên một nền tảng thực tiễn vững chắc, giàu sức sống.

Chính trên nền tảng đã được kiểm chứng ấy, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Trung ương và Nghị quyết số 07-NQ/TU của Tỉnh ủy xuất hiện như sự tiếp sức đúng lúc. Các quyết sách lớn này không chỉ kịp thời thể chế hóa khát vọng của địa phương, mà thực sự trở thành nguồn trợ lực quan trọng, tiếp thêm xung lực để Ninh Bình tự tin mở rộng không gian và nâng tầm phát triển.

Sự chuyển động mạnh mẽ từ di sản nghìn năm đến các sản phẩm du lịch sáng tạo đương đại - bệ đỡ vững chắc để Ninh Bình tự tin mở lối tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

Sự chuyển động mạnh mẽ từ di sản nghìn năm đến các sản phẩm du lịch sáng tạo đương đại - bệ đỡ vững chắc để Ninh Bình tự tin mở lối tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

Thế nhưng, để nguồn lực văn hóa thực sự bứt phá và trở thành động lực tăng trưởng bền vững lâu dài, chặng đường phía trước không chỉ có thuận lợi. Khi quy mô kinh tế di sản ngày càng mở rộng, những rào cản vô hình về thể chế, sự chồng chéo trong quản lý và bài toán phân cấp, phân quyền đang đặt ra những thách thức chưa từng có. Lời giải cho bài toán này đòi hỏi bản lĩnh dám nghĩ, dám làm và tinh thần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa từ Trung ương đến người đứng đầu ở từng cấp ủy, chính quyền địa phương.

KỲ 3: ĐỘT PHÁ THỂ CHẾ - “KÍCH HOẠT” CÁC NGUỒN LỰC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/bien-di-san-thanh-nguon-luc-phat-trien-261018151520939.html