Biến danh hiệu UNESCO thành nguồn lực quốc gia Bài 1: Từ 'chứng thư văn hoá' đến kết nối toàn cầu

“Mỗi danh hiệu UNESCO không chỉ là niềm tự hào của một địa phương hay một cộng đồng, mà còn là một ‘chứng thư văn hóa’ có giá trị toàn cầu, góp phần khẳng định vị trí của Việt Nam trong kho tàng di sản chung của nhân loại”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh.

Tiếng phách gõ từng nhịp. Tiếng đàn đáy ngân lên trong không gian cổ kính của Bích Câu Đạo Quán. Ca nương cất giọng, từng âm thanh mộc mạc nhưng sắc nét như khiến sự tĩnh lặng của buổi chiều Hà Nội tách làm đôi…

Ở hàng ghế phía dưới, những vị khách Australia chăm chú lắng nghe. Họ không hiểu tiếng Việt. Họ cũng không thể biết nội dung của từng câu hát. Nhưng khi những ca nương dừng lại để hướng dẫn cách “nảy hột”, kỹ thuật đặc trưng làm nên vẻ đẹp của ca trù, cả căn phòng bỗng bật lên những tiếng cười thích thú. Những vị khách nước ngoài cố đưa âm thanh lên mũi, lặp lại từng nhịp hát còn vụng về, nhưng đầy hào hứng.

Trước khi đến TP Hà Nội, nữ du khách Australia Susan Journeaux chưa từng nghe ca trù nhưng chỉ sau vài giờ trải nghiệm đã để lại những cảm xúc đặc biệt.

“Điều khiến tôi ấn tượng nhất là sự khổ luyện và tâm huyết của các nghệ sĩ. Tôi đã đi nhiều nơi trên thế giới, nhưng chưa từng được thưởng thức một loại hình âm nhạc nào giống như ca trù. Nếu có dịp trở lại Hà Nội, tôi chắc chắn sẽ muốn nghe thêm một lần nữa”, cô Susan Journeaux bày tỏ.

Còn với du khách Australia Shaynna Blaze, điều hấp dẫn nhất không chỉ là được nghe biểu diễn, mà còn là được trực tiếp thử hát, thử chơi nhạc cụ và lắng nghe câu chuyện đằng sau mỗi làn điệu. “Tôi được biết phải mất khoảng mười năm mới có thể học thành thạo. Điều đó cho thấy ca trù đòi hỏi kỹ thuật rất cao. Nhưng ngay cả người mới cũng có thể thử hát và cảm nhận được vẻ đẹp của loại hình nghệ thuật này…”, nữ du khách bộc bạch.

Theo du khách Shaynna Blaze, chính những trải nghiệm trực tiếp đã khiến cô hiểu rằng muốn khám phá một đất nước thì không chỉ ngắm cảnh đẹp mà còn phải hòa mình vào nền văn hóa của người dân: “Đây là trải nghiệm rất tuyệt vời. Nếu quay trở lại Hà Nội, tôi muốn đi xem một buổi biểu diễn ca trù thực sự…, chắc chắn tôi sẽ giới thiệu cho bạn bè đến và tự mình trải nghiệm”.

Không chỉ du khách quốc tế, ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam cũng đang tìm về với Ca trù bằng sự tò mò và niềm yêu thích. Bạn trẻ Ngô Phương Linh (22 tuổi, TP Hà Nội) biết đến lớp học ca trù Bích Câu qua mạng xã hội Facebook. Sau hai buổi trải nghiệm, Linh đã có thể cất những câu hát đầu tiên và tự gõ phách.

“Điều khiến mình thích nhất là được trực tiếp hát, trực tiếp nghe tiếng đàn đáy, không phải cần nghe qua những bản ghi âm. Trước đây mình biết đến ca trù qua phim ảnh và các tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Tuân, nhưng chỉ khi được trải nghiệm mới cảm nhận được hết vẻ đẹp của loại hình nghệ thuật này…”, Linh chia sẻ; đồng thời bày tỏ, chính những lớp học mở như vậy đang tạo nên hy vọng cho tương lai của ca trù - loại hình nằm trong danh sách cần được bảo vệ khẩn cấp của UNESCO.

Gần bốn thập kỷ qua, những âm thanh ấy đã trở thành một phần cuộc đời của Nghệ sĩ Ưu tú (NSƯT) Vân Mai, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Ca trù Hà Thành - Nhà hát Ca trù Bích Câu Đạo Quán.

“Năm 2008, tôi tâm niệm rằng, nếu các nhà nghiên cứu công nhận mình đã hát chuẩn, hát tốt các làn điệu ca trù, thì tôi sẽ mở một lớp dạy miễn phí tại Bích Câu Đạo Quán”, NSƯT Vân Mai nhớ lại.

Ngày ấy, lớp học chỉ có hai vợ chồng bà cùng vài người bạn cùng nghề, người hát chèo, người hát chầu văn… tụ họp, tất cả đều chung một nỗi lo: Nếu không có người học, ca trù rồi sẽ đi về đâu… Rồi lớp học đông dần, những ca nương, kép đàn, người đánh trống chầu mới lần lượt trưởng thành từ chính không gian nhỏ ấy.

“Nhưng niềm trăn trở càng lớn hơn khi năm 2009, Ca trù được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Ngày xưa các cụ nói ca trù có khoảng 100 thể cách, nhưng đến thời điểm đó chỉ còn khoảng một nửa được lưu giữ. Tôi nghĩ, nếu 50 thể cách còn lại cũng mất đi thì chúng ta sẽ có lỗi với cha ông… Đến bây giờ, điều khiến tôi tự hào nhất là Bích Câu Đạo Quán đã đào tạo được nhiều thế hệ ca nương và kép đàn…”, NSƯT Vân Mai tâm sự.

Suốt nhiều năm đồng hành cùng các nghệ nhân và các nhà nghiên cứu, NSƯT Vân Mai kiên trì phục dựng những làn điệu cổ tưởng chừng đã biến mất. Có những bài như “Non mai Hồng Hạnh” đã thất truyền hàng trăm năm được khôi phục thành công; nhiều thể cách khó như “Bài bông”, “Hát dồn Đại Thạch” trong cung vua, phủ chúa cũng dần vang lên trở lại…

“Đó là một tín hiệu rất tích cực để ca trù có cơ hội hồi sinh, không bị mai một… Đặc biệt, danh hiệu UNESCO cũng tạo nên bước chuyển đáng kể trong công tác bảo tồn. Nhiều nghệ nhân được quan tâm hơn, các làn điệu cổ được thu thanh, lưu giữ, những người có công truyền dạy được tôn vinh. Quan trọng hơn, ca trù bắt đầu bước ra khỏi không gian biểu diễn truyền thống để đến với trường học, đình làng, các chương trình giao lưu văn hóa và ngày càng nhiều du khách quốc tế. Mấy năm gần đây, các buổi diễn đều đông khán giả. Khách nước ngoài cũng đến Bích Câu Đạo Quán thường xuyên, có tuần ba đến bốn buổi. Đây là nguồn động viên rất lớn đối với những người làm nghề như chúng tôi…”, NSƯT Vân Mai chia sẻ.

Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, xác định văn hóa là một trong những trụ cột quan trọng của đối ngoại và phát triển đất nước. Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2030 cũng đặt mục tiêu phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam để nâng cao vị thế quốc gia.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam tiếp tục thành lập các Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài tại các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện theo yêu cầu đối ngoại của Đảng và Nhà nước thêm ít nhất 5 trung tâm; có thêm 15 di sản, danh hiệu được các tổ chức quốc tế công nhận, ghi danh; phấn đấu đưa Việt Nam vào Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia…

Tính đến tháng 7/2026, Việt Nam có 37 di sản được UNESCO ghi danh, bao gồm 9 di sản thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể, và 11 di sản tư liệu. Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, mỗi danh hiệu UNESCO không chỉ là niềm tự hào của một địa phương hay một cộng đồng, mà còn là một “chứng thư văn hóa” có giá trị toàn cầu, góp phần khẳng định vị trí của Việt Nam trong kho tàng di sản chung của nhân loại.

Trong ngoại giao văn hóa, di sản có khả năng tạo ra sự kết nối rất đặc biệt. Nếu ngoại giao chính trị chủ yếu dựa trên lợi ích và nguyên tắc, ngoại giao kinh tế dựa trên thị trường và nguồn lực, thì ngoại giao văn hóa đi vào tình cảm, sự đồng cảm và lòng tin của con người. Một di sản được bảo tồn tốt, được kể bằng một câu chuyện hấp dẫn có thể giúp bạn bè quốc tế hiểu sâu hơn về lịch sử, tâm hồn, bản lĩnh và khát vọng của dân tộc Việt Nam.

Thông qua di sản, thế giới không chỉ biết đến Việt Nam là một đất nước đã vượt qua chiến tranh, mà còn là một quốc gia có nền văn hóa lâu đời, đa dạng, giàu sức sáng tạo, luôn biết trân trọng quá khứ và hướng tới tương lai. Đó chính là nền tảng quan trọng để hình thành sức mạnh mềm quốc gia.

Tuy nhiên, giá trị của danh hiệu không tự động chuyển hóa thành sức mạnh mềm, mà phụ thuộc vào cách chúng ta bảo tồn, quản lý, truyền thông và tạo ra những trải nghiệm văn hóa có chiều sâu. Khi di sản thực sự sống trong cộng đồng, được công chúng trong nước yêu quý và được bạn bè quốc tế tôn trọng, danh hiệu UNESCO mới trở thành một nguồn lực bền vững cho ngoại giao văn hóa và nâng cao vị thế quốc gia.

Bà Urawadee Sriphiromya, Đại sứ Vương quốc Thái Lan tại Việt Nam chia sẻ, giá trị của Danh mục Di sản của UNESCO vượt xa ý nghĩa bảo tồn. Việc được UNESCO ghi danh là là sự ghi nhận những giá trị độc đáo và những đóng góp của quốc gia đối với nhân loại. Đây cũng là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của sức mạnh mềm. Trong thời gian công tác tại Việt Nam, Đại sứ đã có dịp đến nhiều Di sản Thế giới được UNESCO ghi danh như: Vịnh Hạ Long, Hoàng thành Thăng Long, phố cổ Hội An, đồng thời trải nghiệm nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm nghệ thuật và văn hóa dân gian.

“Điều để lại ấn tượng sâu sắc nhất với tôi không chỉ là vẻ đẹp, giá trị lịch sử của các di sản, mà còn là cách những truyền thống này vẫn tiếp tục hiện diện, là một phần trong đời sống thường nhật và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội. Chúng không đơn thuần là những công trình, hay những màn trình diễn dành cho du khách, mà vẫn là những biểu hiện sống động của bản sắc Việt Nam.

Những di sản và truyền thống này giúp bạn bè quốc tế kết nối với Việt Nam ở một tầng ý nghĩa sâu sắc hơn. Chúng khơi gợi sự ngưỡng mộ, tò mò và thấu hiểu, những giá trị mà không một chiến dịch quảng bá nào có thể dễ dàng tạo dựng được. Tôi tin rằng, chúng đã trở thành một cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế, góp phần củng cố hình ảnh một đất nước giàu di sản văn hóa, kiên cường và luôn hướng tới tương lai”, Đại sứ Urawadee Sriphiromya bày tỏ.

Trao đổi với báo Tin tức và Dân tộc, ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam cho biết, UNESCO ghi nhận những tiến bộ đáng kể mà Việt Nam đã đạt được trong hơn một thập kỷ qua trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Hiện nay, Việt Nam có 9 di sản thế giới được UNESCO ghi danh, 17 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh vào các Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO và 4 thành phố thuộc Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO... Quan trọng hơn, những thành tựu này ngày càng được củng cố bởi một khuôn khổ chính sách vững chắc hơn, trong đó có Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa và Luật Di sản văn hóa (sửa đổi), đặt văn hóa vào vị trí trung tâm của phát triển bền vững, đồng thời dành sự quan tâm lớn hơn cho các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo.

“Có thể thấy rõ một số chuyển biến nổi bật. Di sản ngày càng được quản lý như một nguồn lực phục vụ phát triển bền vững. Chẳng hạn, Hội An và Tràng An đã xây dựng các cơ chế để nguồn thu từ du lịch được tái đầu tư cho công tác bảo tồn, cũng như duy trì đời sống văn hóa của cộng đồng địa phương. Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn và Hoàng thành Thăng Long cũng mang lại nhiều bài học quan trọng về bảo tồn, nghiên cứu và hợp tác quốc tế. Điều này phản ánh một sự chuyển dịch quan trọng theo hướng quản lý di sản lấy con người làm trung tâm, trong đó việc gìn giữ các giá trị văn hóa luôn gắn liền với nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương”, ông Jonathan Wallace Baker chia sẻ.

Theo Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam, UNESCO luôn nhấn mạnh việc được ghi danh không phải là đích đến. Điều quan trọng là cách các danh hiệu này được phát huy để tạo ra những giá trị lâu dài cho con người và cộng đồng; đồng thời đưa văn hóa và di sản trở thành trọng tâm của các chiến lược phát triển theo hướng bao trùm, có khả năng chống chịu và lấy con người làm trung tâm.

Việt Nam cũng đang tìm ra những phương thức mới để kết nối di sản với sáng tạo. Các nghề thủ công truyền thống, những khu phố lịch sử và không gian công cộng đang trở thành nền tảng cho thiết kế đương đại, sản xuất văn hóa và hoạt động khởi nghiệp. Những sáng kiến như: Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội (Hanoi Creative Design Festival) và Photo Hanoi… cho thấy di sản có thể trở thành động lực thúc đẩy các hoạt động sáng tạo mới, thu hút giới trẻ và tạo ra các cơ hội kinh tế, đồng thời vẫn tôn trọng và gìn giữ các giá trị văn hóa.

“Trong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng trở thành một đối tác tích cực trong hợp tác văn hóa quốc tế. Vai trò ngày càng nổi bật của Việt Nam trong các cơ quan điều hành của UNESCO, cùng với sáng kiến về ‘Thập kỷ Văn hóa vì Phát triển Bền vững’, nhận được sự ủng hộ rộng rãi tại Đại hội đồng UNESCO lần thứ 43 cho thấy, Việt Nam đang đóng góp cả ý tưởng và kinh nghiệm thực tiễn vào các cuộc thảo luận toàn cầu về văn hóa và phát triển bền vững. UNESCO sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trên chặng đường này. Chúng tôi mong muốn tiếp tục hỗ trợ Việt Nam phát huy các mô hình, thực tiễn tốt trong bảo tồn và phát huy các di sản được UNESCO ghi danh, đồng thời góp phần chia sẻ những kinh nghiệm đó với cộng đồng quốc tế”, ông Jonathan Wallace Baker nhấn mạnh.

Không chỉ được bảo tồn, nhiều di sản của Việt Nam đang từng bước được “đánh thức” để trở thành không gian sống của cộng đồng và nguồn lực cho phát triển bền vững. Tại Kỳ họp lần thứ 48 của Ủy ban Di sản Thế giới diễn ra ở Hàn Quốc, đã ghi nhận và biểu dương những nỗ lực của các nước thành viên, trong đó có Việt Nam trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội. Uỷ ban đánh giá cao việc Việt Nam trong việc xây dựng định hướng phục hồi không gian di sản, tiếp tục chuẩn bị tài liệu kỹ thuật phục dựng điện Kính Thiên, đồng thời khuyến khích đưa khu di sản trở thành nơi diễn ra các lễ hội, sự kiện văn hóa, chính trị và các hoạt động thực hành di sản văn hóa phi vật thể.

Cách tiếp cận này nhằm từng bước khôi phục chức năng lịch sử của Hoàng thành Thăng Long với tư cách là trung tâm văn hóa, tôn giáo và chính trị của quốc gia; qua đó giúp di sản gắn bó mật thiết hơn với đời sống cộng đồng, mang lại sức sống và tính bền vững cho không gian di sản. Những lễ hội truyền thống như “Tết Nguyên đán” cùng nhiều nghi lễ quan trọng được tổ chức ngay trong khu di sản không chỉ tái hiện giá trị lịch sử mà còn khẳng định Hoàng thành Thăng Long là một “di sản sống”, tiếp tục đồng hành cùng đời sống văn hóa của người dân Thủ đô và cả nước.

Ông Nguyễn Thanh Quang, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội cho biết, với sự hỗ trợ của Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ (ICOMOS) cùng Trung tâm Di sản Thế giới UNESCO, TP Hà Nội đã chủ động triển khai các khuyến nghị của UNESCO và đoàn chuyên gia tư vấn nhằm nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật phục dựng điện Kính Thiên, khôi phục Ngự đạo, nền móng các hành lang và Kính Thiên Môn trên cơ sở khoa học về bảo tồn. Quá trình hợp tác quốc tế không chỉ giúp Hoàng thành Thăng Long tiếp cận nhiều kinh nghiệm quý trong bảo tồn di sản, mà còn góp phần gìn giữ và phát huy giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản Văn hóa Thế giới theo hướng bền vững cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Nếu TP Hà Nội đang nỗ lực làm cách làm sống lại di sản bằng các hoạt động văn hóa ngay trong không gian di sản, thì tỉnh Quảng Ninh đang nỗ lực biến di sản thành nền tảng để xây dựng thương hiệu điểm đến và phát triển công nghiệp văn hóa. Những năm gần đây, Quảng Ninh xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, xã hội. Tỉnh từng bước chuyển từ tư duy tổ chức các hoạt động văn hoá đơn lẻ sang xây dựng chuỗi sự kiện mang thương hiệu riêng, gắn với quảng bá hình ảnh, phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.

Trung bình mỗi năm, Quảng Ninh tổ chức từ 50 đến 70 sự kiện văn hóa, thể thao quy mô quốc gia, quốc tế cùng hàng trăm hoạt động tại cơ sở. Nhiều chương trình nghệ thuật thu hút từ 30.000 đến 50.000 khán giả. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, địa phương đã tổ chức 30 sự kiện cấp tỉnh, quốc gia và quốc tế, trong đó có 10 sự kiện quy mô lớn; đồng thời triển khai 152 hoạt động kích cầu du lịch, thu hút hơn 12,4 triệu lượt khách với tổng doanh thu đạt trên 35.000 tỷ đồng. Chuỗi sự kiện Tuần Văn hóa - Du lịch Quảng Ninh chào hè 2026 thu hút hơn 400.000 lượt người tham dự trực tiếp và hơn 100 triệu lượt tương tác trên các nền tảng số, để lại ấn tượng cho nhân dân và du khách.

Ông Lê Ngọc Thanh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh cho biết, thời gian quan, địa phương luôn xác định lấy di sản, cảnh quan và bản sắc văn hóa làm nền tảng xây dựng thương hiệu sự kiện. Với 609 di tích, trong đó có 8 di tích quốc gia đặc biệt, 19 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cùng hai di sản thế giới là Vịnh Hạ Long và Quần thể di tích, danh thắng Yên Tử, Quảng Ninh sở hữu những lợi thế nổi bật để phát triển các sản phẩm văn hóa, du lịch quy mô lớn.

Từ nền tảng đó, mỗi sự kiện tại tỉnh Quảng Ninh đều được thiết kế gắn chặt với không gian di sản. Carnaval Hạ Long diễn ra trên nền Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long với sân khấu thực cảnh và màn trình diễn “Sóng hội ánh sáng” của gần 100 tàu du lịch; chương trình nghệ thuật “Non thiêng Yên Tử - Khí phách ngàn năm” khai thác chiều sâu lịch sử và văn hóa Phật giáo Trúc Lâm; nhiều giải thể thao quốc gia, quốc tế cũng được tổ chức tại các không gian ven biển, khu du lịch và danh thắng nổi tiếng của tỉnh…

Tiếng phách ở Bích Câu Đạo Quán rồi sẽ khép lại sau mỗi buổi diễn. Nhưng nếu một du khách mang theo ký ức về ca trù trở về quê hương, nếu một người trẻ quyết định trở lại học hát, nếu một di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng…, thì hành trình của di sản mới thực sự bắt đầu. Từ những nhịp phách của ca trù, những nghi lễ trong Hoàng thành Thăng Long, những lễ hội bên Vịnh Hạ Long, hay những câu chuyện được kể từ mỗi vùng đất có di sản… Việt Nam đang từng bước chuyển hóa những giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia.

Bài 2: Gỡ điểm nghẽn để di sản ‘lên ngôi’

Bài: Hồng Phượng 
Ảnh: Báo Tin tức và Dân tộc, NVCC 
Trình bày: Hồng Phượng

24/08/2026 07:10

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/long-form/megastory/bien-danh-hieu-unesco-thanh-nguon-luc-quoc-gia-bai-1-tu-chung-thu-van-hoa-den-ket-noi-toan-cau-20260819195818405.htm