Biến đổi khí hậu: Từ thích ứng đến nâng cao giá trị nông sản

Chi phí đầu vào tăng, thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe, đặt ra yêu cầu với ngành nông nghiệp cần chuyển đổi sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải thấp.

Sản xuất lúa chất lượng cao ứng dụng cơ giới hóa tại vùng chuyên canh lúa của tỉnh An Giang. Ảnh: Thanh Sang-TTXVN 

Sản xuất lúa chất lượng cao ứng dụng cơ giới hóa tại vùng chuyên canh lúa của tỉnh An Giang. Ảnh: Thanh Sang-TTXVN 

Biến đổi khí hậu với hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt và thời tiết cực đoan ngày càng tác động rõ nét đến sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó, chi phí đầu vào tăng, thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe, đặt ra yêu cầu với ngành nông nghiệp cần chuyển đổi sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải thấp, vừa thích ứng với biến đổi khí hậu, vừa nâng cao giá trị và thu nhập cho nông dân.

Kết luận số 75-KL/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới xác định mục tiêu đến năm 2045 phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp trở thành phương thức phát triển quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Theo định hướng này, ngành nông nghiệp và môi trường chuyển đổi theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải carbon thấp; xây dựng các mô hình nông nghiệp thông minh, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới hệ thống sản xuất lương thực, thực phẩm bền vững.

Thực tế sản xuất cho thấy biến đổi khí hậu đang làm gia tăng rủi ro đối với nhiều vùng nông nghiệp. Thời tiết cực đoan làm tăng nguy cơ hạn hán, sâu bệnh, ảnh hưởng năng suất, trong khi chi phí vật tư đầu vào ngày càng cao. Trong khi đó, các nhà bán lẻ, nhà chế biến lớn tại EU, Hoa Kỳ ngày càng đặt ra yêu cầu về ESG, Net Zero, truy xuất nguồn gốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và trách nhiệm xã hội. Nhiều nhà mua hàng quốc tế yêu cầu nhà cung cấp xây dựng lộ trình giảm phát thải carbon trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Vì vậy, sản xuất giảm phát thải trong nông nghiệp không chỉ nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam về phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 mà còn là yêu cầu để nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng của ngành.

Điển hình là việc triển khai Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”. Các địa phương tập trung xây dựng quy trình canh tác giảm phát thải; sử dụng hiệu quả phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới; tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp; phát triển nông nghiệp tuần hoàn; ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Qua đó, nông dân có thể giảm chi phí đầu vào, cải thiện độ phì đất, nâng chất lượng nông sản và tăng hiệu quả sản xuất.

Trong lĩnh vực lúa gạo, Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đang tạo hướng đi mới, gắn sản xuất với giảm phát thải và nâng giá trị. Theo bà Nguyễn Thị Trà My, Tổng Giám đốc Tập đoàn PAN, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam (Vinaseed), để chuyển đổi ngành lúa gạo theo hướng chất lượng cao, phát thải thấp cần tiếp cận theo chuỗi giá trị, từ giống, canh tác, bảo vệ thực vật, thu mua, chế biến đến xây dựng thương hiệu và thị trường. Phát triển tín chỉ carbon trong sản xuất lúa gạo cũng là hướng đi doanh nghiệp quan tâm.

Không chỉ tại Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) đã phối hợp với cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp triển khai mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, phát thải thấp tại Hưng Yên, Ninh Bình và Hải Phòng trong vụ Xuân 2026. Các mô hình bước đầu cho thấy vai trò của hợp tác công - tư trong thúc đẩy sản xuất xanh, giảm phát thải.

Cơ giới hóa thông minh giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng thích ứng. Ảnh minh họa: Thu Hiền - TTXVN

Cơ giới hóa thông minh giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng thích ứng. Ảnh minh họa: Thu Hiền - TTXVN

Cùng với thay đổi quy trình canh tác, chuyển đổi xanh đòi hỏi đổi mới phương thức tổ chức sản xuất. Trước sức ép từ hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt, thiếu lao động nông thôn và chi phí đầu vào gia tăng, cơ giới hóa thông minh được xem là giải pháp quan trọng để nâng hiệu quả và khả năng thích ứng.

Ông Lê Viết Bình, Phó Chánh Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, giai đoạn 2026-2035 cần chuyển từ cơ giới hóa từng khâu riêng lẻ sang cơ giới hóa thông minh theo chuỗi giá trị; trong đó máy móc là công cụ, dữ liệu là nền tảng, chuyển đổi số là động lực, hợp tác xã là hạt nhân tổ chức dịch vụ và nông nghiệp xanh, phát thải thấp là mục tiêu cuối cùng.

Theo ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, cơ giới hóa chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai đồng bộ trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Cùng với máy móc, cần xây dựng nền tảng dữ liệu số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, hệ thống giám sát và đo lường phát thải để chuyển từ sản xuất dựa trên kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên dữ liệu. Cơ giới hóa cũng cần gắn với thu gom phụ phẩm phục vụ kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Vai trò của doanh nghiệp cũng ngày càng rõ nét trong quá trình chuyển đổi. Trong ngành hàng cà phê, Công ty TNHH Vĩnh Hiệp đẩy mạnh phát triển bền vững trên toàn chuỗi giá trị cà phê, từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ. Doanh nghiệp sở hữu vùng nguyên liệu đạt các tiêu chuẩn quốc tế, cùng hệ thống nhà máy hiện đại và mạng lưới đối tác tại hơn 60 quốc gia.

Theo ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, doanh nghiệp tiếp tục tập trung giảm phát thải khí nhà kính, quản trị rủi ro khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, thúc đẩy canh tác tuần hoàn, tái sinh và mở rộng diện tích cà phê hữu cơ đạt chuẩn quốc tế.

Để tạo thêm động lực cho quá trình chuyển đổi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ xây dựng nhãn phát thải thấp đối với các sản phẩm trồng trọt chủ lực như lúa gạo, cà phê, rau quả... Đây là cơ sở để nâng giá trị gia tăng, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của các thị trường cao cấp và từng bước định hình thương hiệu “nông sản xanh - phát thải thấp - trách nhiệm” của Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ chỉ đạo tổ chức sản xuất theo hướng chủ động, thích ứng với thời tiết và nhu cầu thị trường; hướng dẫn các địa phương điều chỉnh cơ cấu cây trồng, chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao hơn, phù hợp điều kiện từng vùng. Đồng thời, Bộ tiếp tục đẩy mạnh Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Cùng với đó, việc huy động nguồn vốn, hỗ trợ kỹ thuật, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao năng lực cho nông dân và hợp tác xã, xây dựng chuỗi liên kết với doanh nghiệp cần được triển khai đồng bộ. Khi người sản xuất được tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường, chuyển đổi xanh sẽ không chỉ giúp ngành nông nghiệp giảm rủi ro trước biến đổi khí hậu mà còn tạo thêm giá trị trong chuỗi, nâng sức cạnh tranh và mở rộng cơ hội cho nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Giải quyết thách thức biến đổi khí hậu - Bài 1: Đột phá tư duy

Giải quyết thách thức biến đổi khí hậu - Bài 2: Gia cố sức chống chịu của đô thị biển

Giải quyết thách thức biến đổi khí hậu - Bài 3: Bước chuyển trong ứng phó

Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/giai-quyet-thach-thuc-bien-doi-khi-hau-bai-cuoi-tu-thich-ung-den-nang-cao-gia-tri-nong-san/433019.html