Biến 'không khí' thành tiền: Cơ hội tỷ đô từ sàn giao dịch carbon

Chính thức vận hành từ cuối tháng 6/2026, sàn giao dịch carbon tại Việt Nam được xem là bước tiến quan trọng hướng tới nền kinh tế phát thải thấp. Dù thị trường còn sơ khai, ông Nguyễn Ngọc Tùng - Giám đốc Quỹ Đầu tư VinaCarbon - nhận định nước ta có đủ tiềm năng để biến việc giảm phát thải thành nguồn giá trị kinh tế thực sự, thu hút dòng vốn lớn vào lâm nghiệp, năng lượng sạch và nông nghiệp.

Sàn giao dịch carbon tại Việt Nam chính thức hoạt động từ cuối tháng 6/2026. Đến nay, số lượng sản phẩm và giao dịch trên thị trường vẫn còn khá hạn chế. Tuy nhiên, tiềm năng phát triển được đánh giá còn lớn khi Việt Nam đang đẩy mạnh mục tiêu giảm phát thải, thúc đẩy chuyển đổi xanh và từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường carbon.

Liên quan đến vấn đề này, phóng viên Báo Nhà báo và Công luận đã có cuộc trao đổi riêng với ông Nguyễn Ngọc Tùng, Giám đốc Quỹ Đầu tư VinaCarbon, về triển vọng của thị trường carbon tại Việt Nam.

Thị trường carbon Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển mạnh. Ảnh: Bảo Nghi

Thị trường carbon Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển mạnh. Ảnh: Bảo Nghi

Thị trường carbon Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển mạnh

+ Thưa ông, việc sàn giao dịch carbon chính thức vận hành từ tháng 6/2026 được xem là bước khởi đầu cho thị trường carbon tại Việt Nam. Dưới góc nhìn đầu tư, ông nhìn nhận cơ hội và dư địa tăng trưởng của thị trường này trong những năm tới như thế nào?

- Có thể nói, thị trường carbon Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển mạnh, đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang ở vị thế thuận lợi nhờ hội tụ bốn yếu tố: Nhu cầu quốc tế, nguồn cung tự nhiên, khung pháp lý và các định chế quốc tế sẵn sàng hợp tác.

Việc sàn giao dịch carbon trong nước đi vào vận hành thí điểm dù với số lượng sản phẩm và giao dịch còn hạn chế, nhưng đây là bước tiến quan trọng, vì nó đặt nền móng cho một thị trường minh bạch, hướng tới nền kinh tế phát thải thấp và các cam kết khí hậu của Việt Nam.

Tiềm năng phát triển của thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam trước hết đến từ nhu cầu. Trong nước, yêu cầu giảm phát thải và chuyển đổi xanh đang được cụ thể hóa bằng cơ chế hạn ngạch, bắt đầu với các ngành phát thải lớn như nhiệt điện, thép, xi măng và sẽ siết chặt sang nhiều ngành hơn trong tương lai.

Trên thế giới, xu hướng xanh hóa chuỗi cung ứng đang diễn ra ngày càng mạnh, với nhiều yêu cầu mới về giảm phát thải.

Từ Cơ chế bù trừ và giảm phát thải carbon trong hàng không (CORSIA), cam kết net-zero của các tập đoàn đa quốc gia, cho đến Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu (EU), đang buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải quản trị phát thải chặt chẽ hơn. Điều này tạo ra nhu cầu lớn về tín chỉ carbon có chất lượng và tính toàn vẹn cao trong tương lai.

Để đáp ứng nhu cầu đó, Việt Nam có tiềm năng nguồn cung ở nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, năng lượng tái tạo, quản lý chất thải, và đặc biệt là lĩnh vực lâm nghiệp nơi có lợi thế rõ ràng và bền vững.

Việt Nam có diện tích rừng lớn, trong đó rừng trồng chiếm tỷ trọng đáng kể, cùng kinh nghiệm quản lý rừng và chuỗi giá trị lâm sản đã hình thành nhiều năm.

Bên cạnh đó, carbon rừng đã có khung pháp lý riêng. Các dự án bảo vệ, phục hồi và quản lý rừng bền vững vừa tạo ra giảm phát thải thực chất, vừa hỗ trợ sinh kế cộng đồng nếu có cơ chế chia sẻ lợi ích phù hợp. Và vì rừng là tài sản dài hạn, với chu kỳ dự án kéo dài hàng chục năm, lâm nghiệp cũng phù hợp nhất với câu chuyện phát triển trung và dài hạn của thị trường.

Tuy nhiên, có cầu và có cung thôi chưa đủ, vì thị trường chỉ phát triển bền vững khi có hạ tầng đi kèm.

Chỉ trong khoảng một năm rưỡi, Việt Nam đã xây dựng gần như đầy đủ "bộ khung" cần thiết cho thị trường carbon, từ cơ chế mua bán phát thải trong nước, sàn giao dịch chính thức, hệ thống đăng ký quốc gia, cho đến quy định chuyển nhượng tín chỉ ra quốc tế và một nghị định riêng cho carbon rừng. Hơn thế nữa, Việt Nam cũng đã có các kênh hợp tác song phương với Nhật Bản, Singapore.

Tóm lại, Việt Nam đang hội tụ đầy đủ điều kiện để thị trường carbon tăng trưởng trong những năm tới. Tuy nhiên, tốc độ phát triển sẽ phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của khung pháp lý và hạ tầng giao dịch, chất lượng và tính toàn vẹn của tín chỉ, cũng như khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Ông Nguyễn Ngọc Tùng, Giám đốc Quỹ Đầu tư VinaCarbon. Ảnh: NVCC

Ông Nguyễn Ngọc Tùng, Giám đốc Quỹ Đầu tư VinaCarbon. Ảnh: NVCC

+ Theo ông, đâu là những khó khăn và thách thức lớn nhất đang cản trở thị trường tín chỉ carbon Việt Nam phát triển, cả về nguồn cung tín chỉ, chất lượng tín chỉ, cơ chế giao dịch và khả năng tham gia của doanh nghiệp?

- Thách thức lớn nhất hiện nay là nguồn cung tín chỉ carbon chất lượng cao còn hạn chế. Để tạo ra một tín chỉ carbon, dự án phải trải qua quy trình tương đối dài và tốn kém, từ xây dựng dự án, thẩm định, đăng ký,... nên nhìn chung các nhà đầu tư khá khó tiếp cận.

Bên cạnh đó, người mua tín chỉ carbon ngày càng khắt khe hơn về chất lượng. Các tiêu chí như tính bổ sung, nguy cơ đảo ngược và rủi ro tính hai lần ngày càng được quan tâm. Do đó, thị trường sẽ có xu hướng ưu tiên những tín chỉ được chứng nhận bởi các tiêu chuẩn uy tín. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao năng lực đo đạc, báo cáo và thẩm định, đồng thời từng bước hài hòa các tiêu chuẩn trong nước với thông lệ quốc tế.

Một thách thức khác nằm ở khung pháp lý và hạ tầng thị trường. Các quy định, tiêu chuẩn tín chỉ, hệ thống dữ liệu và cơ chế giám sát vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để tăng tính minh bạch, tạo niềm tin và giảm sự bất định cho nhà đầu tư.

Trong khi đó, sàn giao dịch carbon hiện mới ở giai đoạn thí điểm, số lượng sản phẩm và giao dịch còn hạn chế, thanh khoản thấp nên chưa hình thành được tín hiệu giá đủ rõ ràng. Nhu cầu tín chỉ trong nước cũng phụ thuộc vào việc phân bổ hạn ngạch phát thải và phạm vi các ngành được áp dụng, khiến doanh nghiệp khó dự báo nhu cầu cũng như tính toán hiệu quả đầu tư trong dài hạn.

Những yếu tố này tác động trực tiếp đến khả năng tham gia của doanh nghiệp. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thiếu thông tin, nguồn lực và nhân sự chuyên môn để triển khai các hoạt động giảm phát thải. Trong bối cảnh hạn ngạch phát thải hiện vẫn được cung cấp miễn phí, không ít doanh nghiệp chưa nhìn thấy lợi ích kinh tế trực tiếp từ việc đầu tư vào giảm phát thải.

Ngoài ra, chi phí tuân thủ và chi phí đầu tư cho công nghệ xanh còn tương đối lớn. Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp vẫn lựa chọn quan sát và thận trọng, thay vì nhanh chóng đầu tư vào các giải pháp giảm phát thải và tham gia sâu hơn vào thị trường carbon.

Biến giảm phát thải thành một nguồn giá trị kinh tế thực sự

+ Theo ông, khi thị trường tín chỉ carbon dần hình thành và mở rộng, dòng vốn đầu tư sẽ có xu hướng tìm đến những lĩnh vực, dự án nào và Việt Nam cần làm gì để tận dụng tốt cơ hội này?

- Cơ hội lớn nhất mà thị trường carbon mang lại là biến giảm phát thải thành một nguồn giá trị kinh tế thực sự. Khi nhu cầu từ cả trong nước lẫn quốc tế tăng lên, những dự án trước đây chỉ có lợi ích môi trường nay có thêm dòng doanh thu từ tín chỉ, giúp cải thiện hiệu quả tài chính và thu hút vốn đầu tư dài hạn.

Từ đó, dòng vốn sẽ chảy vào những lĩnh vực vừa tạo ra giảm phát thải thực chất, vừa đo lường và kiểm chứng được. Phát triển nguồn năng lượng sạch, quản lý chất thải và nông nghiệp phát thải thấp là những hướng đang được quan tâm.

Bên cạnh đó, các dịch vụ hỗ trợ như đo đạc, báo cáo, thẩm định, vì thị trường càng phát triển thì nhu cầu về những dịch vụ này càng lớn.

Ngoài ra, lâm nghiệp là lĩnh vực cũng có nhiều lợi thế để thu hút vốn trong trung và dài hạn. Lý do là tín chỉ từ rừng gắn với tài sản thực, có chu kỳ dài hạn và được người mua quốc tế đặc biệt quan tâm khi họ tìm kiếm tín chỉ chất lượng cao.

Quan trọng hơn, các dự án rừng, nếu được thiết kế tốt, không chỉ giảm phát thải mà còn bảo vệ đa dạng sinh học và tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương, những giá trị mà nhà đầu tư ngày càng coi trọng.

Cơ hội lớn nhất mà thị trường carbon mang lại là biến giảm phát thải thành một nguồn giá trị kinh tế thực sự. Ảnh: VGP

Cơ hội lớn nhất mà thị trường carbon mang lại là biến giảm phát thải thành một nguồn giá trị kinh tế thực sự. Ảnh: VGP

+ Ông có khuyến nghị gì đối với cơ quan quản lý và doanh nghiệp để thị trường tín chỉ carbon vận hành minh bạch, tạo thanh khoản và thực sự trở thành kênh huy động vốn cho các dự án chuyển đổi xanh?

- Để thị trường carbon vận hành hiệu quả và phát huy đầy đủ vai trò trong quá trình chuyển đổi xanh, sẽ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức tài chính.

Đối với cơ quan quản lý, ưu tiên quan trọng là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng đồng bộ, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc xây dựng các hướng dẫn rõ ràng về tiêu chuẩn tín chỉ, cơ chế giao dịch, quy trình xác minh và quản lý dữ liệu sẽ góp phần nâng cao niềm tin của thị trường.

Đối với doanh nghiệp, việc tiếp cận thị trường carbon không nên chỉ được nhìn nhận như một yêu cầu tuân thủ mà cần được xem là một phần trong chiến lược phát triển dài hạn.

Doanh nghiệp chủ động quản trị phát thải, đầu tư vào các giải pháp giảm phát thải và nâng cao chất lượng dữ liệu môi trường sẽ có nhiều lợi thế hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn xanh, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao từ khách hàng và đối tác quốc tế.

Về tổng thể, chúng tôi tin rằng nếu được phát triển đúng hướng, thị trường carbon có thể trở thành công cụ quan trọng giúp điều tiết nguồn lực xã hội vào các hoạt động giảm phát thải, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.

+ Xin cảm ơn ông!

Việt Vũ

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/bien-khong-khi-thanh-tien-co-hoi-ty-do-tu-san-giao-dich-carbon-post362973.html