Biến năng lượng lãng phí thành 'nguồn tài nguyên' cho tăng trưởng
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, việc mở rộng nguồn cung không phải là lời giải duy nhất. Giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng đang mở ra một “nguồn tài nguyên” mới cho doanh nghiệp, vừa tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải.
Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả: “Bài toán sống còn” với doanh nghiệp
Năm 2026, thị trường năng lượng thế giới liên tiếp đối mặt với những biến động lớn. Giá dầu, khí và nhiều loại nhiên liệu chịu tác động từ các “cú sốc” địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng và bất ổn trên các tuyến vận chuyển quốc tế.
Những biến động này nhanh chóng tác động đến chi phí năng lượng, sản xuất và vận tải, tạo thêm sức ép đối với các nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu.

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân. Ảnh: NEU
Đối với Việt Nam, mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030 sẽ kéo theo nhu cầu năng lượng ngày càng lớn, khi sản xuất, công nghiệp và các hoạt động kinh tế tiếp tục được mở rộng. Điều này đặt ra yêu cầu bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định, đủ sức đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng bài toán năng lượng không chỉ nằm ở việc phát triển thêm các nguồn cung mới, mà còn ở việc sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng đang có và giảm phần năng lượng bị lãng phí.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho biết: Mức tiêu hao năng lượng trên GDP của Việt Nam vẫn còn cao, một phần do tình trạng sử dụng lãng phí điện, than, dầu khí và các loại chất đốt.
Theo ông, khu vực doanh nghiệp cần được đặc biệt quan tâm trong bài toán này, bởi đây là nhóm sử dụng lượng năng lượng lớn để phục vụ sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng tại doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn gặp không ít trở ngại.
“Cơ cấu doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi đây là nhóm còn hạn chế về nguồn vốn và công nghệ để đầu tư vào các giải pháp tiết kiệm năng lượng”, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho biết.
Bên cạnh khó khăn về vốn, thực tế vẫn còn nhiều doanh nghiệp sử dụng máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu, tiêu tốn nhiều điện và xăng dầu. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến mức tiêu hao năng lượng cao, đồng thời làm phát sinh thêm chi phí trong quá trình sản xuất.
“Hiện nay, vẫn còn nhiều doanh nghiệp sử dụng thiết bị lạc hậu, tiêu tốn nhiều điện, xăng dầu, dẫn đến tình trạng lãng phí năng lượng”, ông nhấn mạnh.
Để cải thiện tình trạng này, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng doanh nghiệp cần từng bước thay thế các thiết bị cũ, tiêu hao nhiều năng lượng, đồng thời cải tiến công nghệ và các hệ thống phục vụ sản xuất.
Quá trình này có thể đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra khoản chi phí đáng kể trong giai đoạn đầu, nhất là với những doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế. Tuy nhiên, xét về lâu dài, đây là khoản đầu tư có thể mang lại hiệu quả khi giúp giảm mức tiêu thụ năng lượng và nâng cao hiệu quả sản xuất.
"Khi thiết bị, công nghệ được cải tiến, doanh nghiệp có thể giảm chi phí năng lượng, qua đó hạ giá thành sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh. Vì vậy, thay vì chỉ nhìn vào chi phí đầu tư ban đầu, doanh nghiệp cần tính đến hiệu quả trong suốt quá trình vận hành", PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nói.
Không chỉ là câu chuyện của riêng doanh nghiệp, lãng phí năng lượng còn tạo ra những chi phí khắc phục đối với nền kinh tế. Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, việc sử dụng năng lượng không hiệu quả vừa làm tăng chi phí sản xuất, vừa tạo thêm gánh nặng cho Nhà nước trong việc xử lý những hệ quả phát sinh, đồng thời gây tác động không tốt đến môi trường.
"Doanh nghiệp cần bắt đầu từ những việc cụ thể và nhỏ nhất, từ thay thế thiết bị cũ, hệ thống chiếu sáng, nâng cao hiệu quả sử dụng điện đến từng bước đổi mới công nghệ và chuyển sang sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.
Nếu không nhanh chóng chuyển dịch, doanh nghiệp có nguy cơ bị tụt hậu về công nghệ, gia tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh và khó đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế", PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh.
Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ những giải pháp chi phí thấp
Từ yêu cầu phải nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng đến việc triển khai trong thực tế vẫn còn một khoảng cách, nhất là với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hạn chế về vốn và công nghệ.

Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ những giải pháp chi phí thấp. Ảnh minh họa/Moit
Vì vậy, theo các chuyên gia, tiết kiệm năng lượng không nhất thiết phải bắt đầu bằng những khoản đầu tư lớn. Doanh nghiệp có thể lựa chọn các giải pháp phù hợp với quy mô, đặc điểm sản xuất và khả năng tài chính, từ những thay đổi trong vận hành đến từng bước đầu tư, đổi mới công nghệ.
Ông Mã Khai Hiền, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về tiết kiệm năng lượng, cho hay: Doanh nghiệp có thể triển khai các giải pháp theo ba mức đầu tư, từ thấp đến cao, qua đó từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Ở nhóm giải pháp có chi phí đầu tư thấp, dưới 10.000 USD (khoảng 260 triệu đồng) và triển khai trong khoảng một năm, doanh nghiệp có thể bắt đầu từ những việc tương đối đơn giản như khắc phục rò rỉ khí nén, hơi nước; tối ưu hóa quy trình vận hành và xây dựng hệ thống quản lý năng lượng theo ISO 50001.
Với nhóm giải pháp có mức đầu tư trung bình, từ 10.000-50.000 USD (khoảng 260 triệu - 1,3 tỷ đồng), thời gian thực hiện khoảng 1-3 năm, doanh nghiệp có thể đầu tư lắp đặt hệ thống bảo ôn để giảm thất thoát nhiệt, lắp bộ biến tần để điều khiển và tối ưu thiết bị, lắp động cơ servo, tối ưu hiệu suất lò hơi.
Bên cạnh đó là xây dựng hệ thống quản lý năng lượng kết hợp giám sát năng lượng và ứng dụng IoT.
Ở nhóm giải pháp chi phí đầu tư cao, với mức đầu tư trên 50.000 USD (trên 1,3 tỷ đồng) và thời gian thực hiện trên 3 năm, doanh nghiệp có thể chuyển sang các công nghệ mới có hiệu suất cao hơn như lò hơi hiệu suất cao, máy nén khí hiệu suất cao, các công nghệ điện khí hóa, hệ thống thu hồi nhiệt thải để phát điện hoặc sinh hơi và bơm nhiệt công nghiệp.
Mỗi ngành một cách tiết kiệm năng lượng
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng không có một công thức chung cho tất cả doanh nghiệp. Tùy đặc điểm của từng ngành, dây chuyền sản xuất và mức tiêu thụ năng lượng, doanh nghiệp cần lựa chọn giải pháp phù hợp.
Đơn cử, trong ngành thép - kim loại, một số doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ Consteel để sấy liệu, giảm ít nhất 20% năng lượng cấp vào.
Đồng thời, một số doanh nghiệp trong ngành này đã lắp đặt hệ thống thu hồi nhiệt từ khói thải, nâng nhiệt sấy liệu từ khoảng 30°C lên 250°C.
Kết quả, giải pháp này giúp tiết kiệm khoảng 3,03 triệu kWh/năm, chi phí tiết kiệm 2,94 tỷ đồng/năm. Được biết, tổng vốn đầu tư cho giải pháp này là khoảng 2,42 tỷ đồng. Như vậy, thời gian thu hồi vốn dưới một năm, đồng thời giảm phát thải khoảng 2.000 tấn CO2/năm.

Dây chuyền sản xuất thép với công nghệ hiện đại. Ảnh: Moit
Một giải pháp khác là lắp đặt bộ biến tần trung thế cho quạt khói thải công suất 1.250 kW, qua đó giảm 27% công suất điện sử dụng. Giải pháp này giúp tiết kiệm khoảng 4,6 triệu kWh/năm, tương đương 5,4 tỷ đồng chi phí năng lượng mỗi năm, với thời gian thu hồi vốn khoảng 3 năm.
Hoặc trong ngành chế biến thực phẩm, đồ uống, nhiều doanh nghiệp đã thay thế máy nén lạnh bằng loại có hiệu suất cao, qua đó giảm hơn 35% điện năng tiêu thụ của hệ thống cấp đông.
Giải pháp này giúp tiết kiệm 450.387 kWh điện mỗi năm, tương đương 700 triệu đồng chi phí tiết kiệm mỗi năm. Mức đầu tư khoảng 3,2 tỷ đồng, thời gian hoàn vốn khoảng 4,5 năm và giảm phát thải khí nhà kính 389 tấn CO2/năm.
Trong ngành nhựa, doanh nghiệp có thể sử dụng công nghệ cảm ứng điện từ gia nhiệt đầu đùn máy ép nhựa. Đồng thời, việc áp dụng máy ép nhựa động cơ servo thay cho máy ép nhựa bằng thủy lực có thể cải thiện 20% chu kỳ ép.
Với một máy ép nhựa, giải pháp này giúp tiết kiệm 137.200 kWh điện mỗi năm, tương đương 15.900 USD chi phí tiết kiệm mỗi năm. Mức đầu tư khoảng 48.000 USD, thời gian hoàn vốn khoảng 3,2 năm và giảm phát thải khí nhà kính khoảng 100 tấn CO2/năm.
Những ví dụ trên cho thấy, tiết kiệm năng lượng không nhất thiết phải bắt đầu từ những khoản đầu tư lớn, mà có thể được thực hiện từng bước, tùy theo điều kiện của mỗi doanh nghiệp.
Quan trọng hơn, phần năng lượng giảm được từ việc thay đổi thiết bị, tối ưu quy trình hay tận dụng nhiệt thải đều có thể chuyển hóa thành khoản tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng, khai thác tốt “nguồn tài nguyên” này sẽ là một trong những cách để doanh nghiệp vừa giảm chi phí, vừa nâng cao sức cạnh tranh và đóng góp vào mục tiêu sử dụng năng lượng hiệu quả của nền kinh tế.
