Biến tài nguyên bản địa thành động lực của kinh tế nông thôn bền vững
Kết nối OCOP, làng nghề và nông nghiệp trải nghiệm với thị trường không chỉ là câu chuyện mở rộng đầu ra. Ở góc nhìn kinh tế môi trường, đây còn là cách chuyển hóa tài nguyên bản địa thành giá trị kinh tế, tạo sinh kế phát triển nông thôn bền vững
Khi tài nguyên bản địa trở thành nguồn lực kinh tế
Sáng 14/8, tại Quảng Ngãi, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi phối hợp tổ chức diễn đàn “Trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm phát triển sản phẩm OCOP, làng nghề và mô hình nông nghiệp trải nghiệm”, với chủ đề “Từ giá trị bản địa đến chuỗi giá trị liên vùng”.

Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi phối hợp tổ chức diễn đàn “Trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm phát triển sản phẩm OCOP.
Diễn đà có sự tham dự của đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi cùng các địa phương Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ thể OCOP cho thấy một xu hướng đang ngày càng rõ trong phát triển kinh tế nông thôn: không thể phát triển sản phẩm địa phương bằng tư duy sản xuất đơn lẻ.
Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có hệ sinh thái tự nhiên, cảnh quan, văn hóa và sản xuất nông nghiệp rất đa dạng. Những vùng nguyên liệu, làng nghề, sản vật đặc trưng và tri thức bản địa chính là một dạng “vốn tự nhiên” và “vốn văn hóa” có giá trị kinh tế.
Nếu được khai thác hợp lý, nguồn vốn này có thể tạo ra nhiều tầng giá trị: từ nông sản, sản phẩm chế biến, dịch vụ trải nghiệm đến du lịch nông thôn, thương mại và các sản phẩm văn hóa.
Ngược lại, nếu chỉ khai thác tài nguyên để bán nguyên liệu thô, giá trị tạo ra thường thấp trong khi áp lực lên đất, nước và hệ sinh thái có thể gia tăng.
Theo đó, bài toán đặt ra không chỉ là làm sao bán được nhiều hơn mà còn là làm sao tạo ra giá trị cao hơn trên cùng một nguồn tài nguyên, đồng thời sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.
Thời điểm cho thấy nhiều sản phẩm OCOP, làng nghề vẫn đang gặp khó về quy mô sản xuất, quản trị, thương hiệu và thị trường. Một số làng nghề chưa tìm được đầu ra ổn định; nhiều vùng sản xuất có cảnh quan và sản phẩm đặc trưng nhưng chưa hình thành được sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.
Qua đó, điểm hạn chế này khiến giá trị kinh tế của tài nguyên địa phương chưa được phát huy đầy đủ.

OCOP, làng nghề và nông nghiệp trải nghiệm sẽ không còn là những mảnh ghép riêng lẻ. Chúng có thể trở thành những mắt xích của một nền kinh tế nông thôn đa giá trị, nơi tài nguyên được sử dụng tiết kiệm hơn, sản phẩm có giá trị cao hơn và cộng đồng địa phương được hưởng lợi nhiều hơn.
Ở góc nhìn kinh tế môi trường, một sản phẩm nông nghiệp không chỉ có giá trị ở phần hàng hóa hữu hình. Đằng sau sản phẩm còn là đất đai, nguồn nước, cảnh quan, văn hóa, lao động và tri thức cộng đồng.
Theo đó, khi một vùng trồng được tổ chức thành điểm tham quan, trải nghiệm; khi sản phẩm làng nghề được đưa vào chuỗi du lịch; khi nông sản được chế biến sâu thay vì bán thô, giá trị kinh tế có thể tăng lên mà không nhất thiết phải mở rộng khai thác tài nguyên theo chiều rộng.
Liên kết để giảm chi phí, tăng giá trị
Tại diễn đàn, hoạt động kết nối thị trường được đặc biệt chú trọng. 4 doanh nghiệp phân phối liên vùng ký kết với 20 chủ thể OCOP, làng nghề; 4 doanh nghiệp du lịch ký kết với 10 doanh nghiệp lữ hành. Những kết nối này nếu được triển khai thực chất có thể tạo ra tác động lớn hơn một hợp đồng tiêu thụ thông thường.
Thực tế cho thấy, khi doanh nghiệp phân phối tham gia sâu vào chuỗi, sản xuất có điều kiện chuyển từ nhỏ lẻ sang ổn định hơn. Khi doanh nghiệp du lịch đưa sản phẩm địa phương vào hành trình trải nghiệm, giá trị của sản phẩm không còn phụ thuộc hoàn toàn vào giá bán tại nơi sản xuất.
Đồng thời, việc hình thành chuỗi liên vùng có thể giúp tối ưu vận chuyển, kho bãi, phân phối và xúc tiến thương mại. Đây là những yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sản phẩm nông nghiệp có quy mô nhỏ và phân tán.
Qua đó, liên kết tốt cũng giúp hạn chế tình trạng sản xuất theo phong trào, giảm nguy cơ dư thừa sản phẩm và tạo điều kiện để thị trường trở thành tín hiệu định hướng sản xuất. Cùng với đó, liên kết thị trường không chỉ giúp bán hàng mà còn giúp sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.

Tại diễn đàn, hoạt động kết nối thị trường được đặc biệt chú trọng. 4 doanh nghiệp phân phối liên vùng ký kết với 20 chủ thể OCOP, làng nghề; 4 doanh nghiệp du lịch ký kết với 10 doanh nghiệp lữ hành.
Tại diễn đàn, ông Trần Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường bày tỏ quan điểm, TP. Hồ Chí Minh có lợi thế lớn về thị trường với khoảng 14 triệu dân cùng hệ thống doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, logistics, du lịch và dịch vụ. Đây là lợi thế mà các địa phương sản xuất cần kết nối để mở rộng không gian thị trường.
Ở chiều ngược lại, TP. Hồ Chí Minh cũng có nhu cầu lớn đối với các sản phẩm đặc trưng, sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao và những trải nghiệm gắn với văn hóa vùng miền.
Qua đó, sự bổ trợ này có thể hình thành một chuỗi giá trị mới: vùng sản xuất cung cấp tài nguyên và sản phẩm đặc trưng; doanh nghiệp tham gia chế biến, thương mại; logistics kết nối thị trường; du lịch tạo thêm giá trị trải nghiệm; còn công nghệ hỗ trợ quản lý, truy xuất và quảng bá.
Đó cũng là cách để kinh tế nông thôn chuyển từ mô hình “bán cái mình có” sang “tạo ra thứ thị trường cần”, nhưng vẫn dựa trên lợi thế và bản sắc của từng vùng.
Từ kết nối sản phẩm đến kết nối tư duy
Cũng theo ông Trần Minh Tiến, từ giá trị bản địa đến chuỗi liên kết vùng đòi hỏi phải chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp và tích hợp đa giá trị. Đây sẽ là điểm cốt lõi của câu chuyện liên kết OCOP, làng nghề và nông nghiệp trải nghiệm.
Theo đó, bảo tồn không thể chỉ dừng ở việc giữ lại một nghề truyền thống. Nếu sản phẩm không có thị trường, người trẻ không tiếp tục theo nghề, làng nghề rất khó duy trì lâu dài. Do đó, kinh tế có thể trở thành một công cụ quan trọng để bảo tồn văn hóa.
Bên cạnh đó, nông nghiệp trải nghiệm nếu được tổ chức bài bản có thể tạo thêm nguồn thu mà không nhất thiết phải mở rộng diện tích sản xuất. Một cánh đồng, vườn cây hay vùng nguyên liệu có thể đồng thời tạo ra nông sản, dịch vụ trải nghiệm và giá trị cảnh quan. Đó chính là hướng tiếp cận đa giá trị mà kinh tế môi trường đang đặt ra.
Qua đó, một nền kinh tế nông thôn bền vững không thể chỉ dựa vào việc tăng sản lượng. Nếu tăng sản lượng đồng nghĩa với khai thác nhiều hơn đất, nước và tài nguyên thì giá trị kinh tế trước mắt có thể phải đánh đổi bằng chi phí môi trường trong tương lai.
Theo đó, diễn đàn tại Quảng Ngãi có ý nghĩa vượt ra ngoài việc kết nối một số sản phẩm với một số doanh nghiệp.
Quan trọng hơn, đây là sự chuyển động trong tư duy phát triển: từ sản xuất sang thị trường, từ sản phẩm đơn lẻ sang chuỗi giá trị và từ khai thác một giá trị sang tích hợp nhiều giá trị.
Qua đó, để chuỗi liên vùng thực sự bền vững, các địa phương cần tiếp tục chuẩn hóa sản phẩm, nâng năng lực hợp tác xã, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, truy xuất nguồn gốc, đầu tư chế biến sâu và nâng cao tiêu chuẩn môi trường trong sản xuất. Doanh nghiệp cũng cần tham gia từ sớm, cùng người dân xây dựng sản phẩm thay vì chỉ tìm đầu ra sau khi sản phẩm đã hoàn thành.
Cùng với đó, chuỗi liên vùng không nên chỉ đo bằng số lượng sản phẩm bán ra hay số hợp đồng được ký kết. Cần nhìn vào giá trị gia tăng tạo ra trên mỗi đơn vị tài nguyên, mức thu nhập của người dân, khả năng duy trì làng nghề, hiệu quả sử dụng tài nguyên và sức sống của các hệ sinh thái nông thôn.
Qua đó, OCOP, làng nghề và nông nghiệp trải nghiệm sẽ không còn là những mảnh ghép riêng lẻ. Chúng có thể trở thành những mắt xích của một nền kinh tế nông thôn đa giá trị, nơi tài nguyên được sử dụng tiết kiệm hơn, sản phẩm có giá trị cao hơn và cộng đồng địa phương được hưởng lợi nhiều hơn.

