Biển trong hành trình mở cõi
VHXQ - Việt Nam là quốc gia có không gian biển đảo rộng lớn với bờ biển trải dài hơn 3.260 km và gần 3.000 hòn đảo lớn nhỏ.

Biển gắn liền với hành trình Nam tiến của người Việt. Ảnh: KIM LIÊN
Trong tiến trình lịch sử dân tộc, biển không chỉ là nơi cung cấp nguồn sống cho nhiều thế hệ người Việt, nơi hình thành và lưu giữ những “cơ tầng”, “trầm tích” văn hóa mà còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hành trình mở cõi về phương Nam.
Biển trong hành trình Nam tiến của người Việt
Quá trình Nam tiến là hành trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam kéo dài qua nhiều thế kỷ, từ thời Lý - Trần - Hồ - Lê đến thời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn.
Từ châu thổ sông Hồng, cư dân Đại Việt theo các tuyến ven biển và đường thủy tiến dần xuống miền Trung rồi vào Nam Bộ, mở rộng không gian cư trú, giao thương và từng bước định hình cương vực lãnh thổ Việt Nam.
Trong tiến trình ấy, biển giữ vai trò như một hành lang chiến lược, giúp người Việt mở rộng không gian cư trú và thiết lập các mạng lưới giao thương mới.
Từ thế kỷ 11, các cuộc chinh phạt Chiêm Thành của vua Lý Thái Tông (1044) và Lý Thánh Tông (1069) đều sử dụng đường biển để vận chuyển quân lương, tiếp tế.
Năm 1306, cuộc hôn nhân giữa vua Chế Mân của Chiêm Thành và công chúa Huyền Trân của nhà Trần cùng việc tiếp quản hai châu Ô - Lý đã mở rộng không gian lãnh thổ và không gian biển đảo của Đại Việt.

Thuyền bè trên sông Hội An vào thế kỷ 18. Tranh do William Alexander vẽ khi tham gia phái bộ của Macartney ghé Đàng Trong vào năm 1792 - 1794. Ảnh Tư liệu.
Tuy nhiên, phải đến cuộc “bình Chiêm” của vua Lê Thánh Tông năm 1471, vùng đất Thuận - Quảng mới chính thức nằm dưới quyền kiểm soát của Đại Việt. Đây là bước ngoặt quan trọng làm thay đổi cấu trúc chính trị và dân cư vùng duyên hải miền Trung.
Trong thời kỳ các chúa Nguyễn cai trị Đàng Trong (1558 - 1775), vai trò của biển càng trở nên nổi bật. Từ khi vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558, Nguyễn Hoàng và các đời chúa Nguyễn tiếp sau đã xây dựng Đàng Trong thành một không gian hướng biển, đẩy mạnh khai thác hải sản, phát triển thương mại và xác lập chủ quyền trên Biển Đông.
Chúa Nguyễn cũng cho lập đội Hoàng Sa với lực lượng chủ yếu là dân Bình Sơn - Cù Lao Ré (Quảng Ngãi), hằng năm ra Hoàng Sa khai thác sản vật, đo đạc, vẽ bản đồ và khẳng định chủ quyền.
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy miền Trung Việt Nam từng là một “địa thể hàng hải” (maritime geobody), nơi các trung tâm chính trị - thương mại gắn với hệ thống cửa biển và thương cảng. Sự phát triển của Champa trước đó cũng dựa trên cấu trúc hướng biển này. Khi tiến xuống phương Nam, người Việt đã kế thừa không gian hàng hải ấy để mở rộng cư trú và thương mại.
Biển hỗ trợ phát triển kinh tế, củng cố năng lực quân sự
Biển giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Đàng Trong thông qua hoạt động ngoại thương. Khác với mô hình kinh tế thiên về nông nghiệp nội địa ở Đàng Ngoài, Đàng Trong phát triển mạnh thương mại biển, giao thương với Nhật Bản, Trung Hoa, Đông Nam Á và phương Tây.

Trưng bày tàu thuyền đi biển của ngư dân xứ Quảng tại Bảo tàng Đà Nẵng. Ảnh: TRẦN ĐỨC ANH SƠN
Các thương cảng Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn… ở ven biển miền Trung trở thành những trung tâm thương mại quốc tế sầm uất trong khoảng thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18.
Kết nối thương mại giữa các cảng ven biển miền Trung với các thương cảng Trung Quốc, Nhật Bản và châu Âu... đã góp phần hình thành các tuyến hải thương như con đường gốm sứ, con đường gia vị, con đường gạo… trong mạng lưới thương mại xuyên Thái Bình Dương đương thời. Người Việt đóng tàu cho thương nhân người Hoa và Xiêm La, vận chuyển gạo từ Nam Bộ sang Trung Hoa.
Biển cũng là yếu tố hỗ trợ quân sự trong tiến trình mở cõi. Các đội thuyền chiến và ghe vận tải của chúa Nguyễn giúp kiểm soát vùng duyên hải kéo dài từ Thuận Hóa đến Gia Định.
Nam tiến không chỉ là mở rộng đất đai mà còn gắn với việc khai thác nguồn lợi biển, tạo nguồn lực kinh tế để Đàng Trong phát triển và đối trọng với Đàng Ngoài.
Hoạt động đánh bắt hải sản, làm muối và buôn bán đường biển cũng góp phần duy trì quá trình mở rộng lãnh thổ trong nhiều thế kỷ.
Biển và sự giao thoa văn hóa
Ngoài vai trò giao thông và quân sự, biển còn là một không gian văn hóa. Trong quá trình Nam tiến, người Việt tiếp xúc với cộng đồng người Chăm, người Hoa và cư dân bản địa vùng duyên hải, từ đó hình thành một nền văn hóa biển đặc sắc ở miền Trung và Nam Bộ.

Thuyền của ngư dân trên vùng biển Cù Lao Chàm đầu thế kỷ 20. Ảnh: Jean-Yves Claeys
Nhiều tín ngưỡng liên quan đến biển như thờ cá Ông, thờ Thiên Y A Na, lễ Cầu ngư… vừa mang yếu tố Việt, vừa tiếp thu ảnh hưởng Chăm.
Hoạt động thương mại biển cũng tạo môi trường thúc đẩy giao thoa văn hóa. Người Việt kế thừa nhiều kinh nghiệm hàng hải của cư dân Chăm, vốn nổi tiếng là dân tộc đi biển mạnh trong lịch sử Đông Nam Á. Các ghe bầu miền Trung được cho là có sự kế thừa từ kỹ thuật đóng thuyền Champa.
Bên cạnh xu hướng “Việt hóa”, văn hóa Việt ở miền Trung cũng chịu ảnh hưởng ngược trở lại từ văn hóa Chăm. Điều đó cho thấy văn hóa Việt không phải một thực thể khép kín mà luôn vận động thông qua quá trình giao lưu và tiếp biến. Biển vì thế không chỉ là tuyến đường hỗ trợ Nam tiến mà còn là môi trường định hình bản sắc văn hóa và mô hình phát triển của vùng đất mới.
Biển giữ vai trò trung tâm trong hành trình mở cõi của người Việt. Chính không gian biển đã tạo điều kiện để quá trình Nam tiến diễn ra liên tục qua nhiều thế kỷ, thúc đẩy hình thành các cộng đồng cư dân ven biển và mở rộng giao thương với khu vực.
Nếu không có biển, quá trình mở cõi của người Việt khó có thể diễn ra nhanh chóng và liên tục để hình thành một lãnh thổ thống nhất, vẹn toàn như Việt Nam ngày nay.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/bien-trong-hanh-trinh-mo-coi-3339063.html











